Thứ Hai, ngày 05 tháng 12 năm 2016

Hầu đồng (tiếp theo).

Ảnh Internet.

Nhân việc UNESCO vinh danh "Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ" của Việt Nam, trong entry trước tôi có viết sơ qua vài nét về hầu đồng, còn được gọi là lên đồng, hầu bóng, đồng bóng... Anh bạn Giao Blog ghé xem có đề nghị "nhờ bác Hiệp viết cho một ghi chép thực tế của bác về "hầu đồng" ở trong Nam. Ví dụ: thời nhỏ bác Hiệp có nghe và thấy hầu đồng bao giờ không, rồi đến khi được thấy bác có cảm nhận gì, vân vân".

Ý kiến của anh bạn Giao Blog vừa dễ lại vừa... khó. Dễ bởi vì trước năm 1975 ngay từ lúc còn nhỏ ở Sài Gòn, nhà ở gần một "điện thờ" (của tư nhân) thỉnh thoảng có tổ chức lên đồng và tôi đã được xem, lớn lên khoảng mười chín, hai mươi lúc ấy ở trong quân đội thường xuyên di chuyển đây đó, khi đóng tại Quy Nhơn cũng gần nơi một con phố có mấy nhà theo Đạo Mẫu, họ cũng hay tổ chức hầu đồng và thỉnh thoảng tôi cũng ghé xem.

Theo tôi được biết, trước năm 1975 việc hầu đồng ở miền Nam không bị cấm đoán, nhưng cũng không phổ biến, có lẽ lúc ấy tình hình chính trị nhiều khi lộn xộn (khoảng hơn nửa đầu thập niên 1960), rồi sau đó chiến sự gia tăng, ít người chú ý tới việc hầu đồng, hình như hồi đó tôi không thấy có sách viết về việc hầu đồng như bây giờ.

Tuy nhiên cũng xin theo ý anh bạn Giao Blog ráng nhớ lại những ký ức về việc tôi đã đi xem hầu đồng kể lại vài dòng dưới đây:

Như đã nói, thuở tôi còn nhỏ, đâu khoảng cuối thập niên 1950 lúc ấy tôi mới đi học tiểu học ở Sài Gòn (cấp 1 bây giờ), nhà ở gần một điện thờ của một gia đình người miền Bắc di cư theo Đạo Mẫu, thỉnh thoảng họ có tổ chức hầu đồng lúc ấy được nghe gọi là lên đồng. Một vài lần được người lớn trong nhà dẫn đi xem, người xem vì hiếu kỳ hoặc trẻ con đến xem thường đứng ngoài cửa chứ không được vào bên trong chỗ làm lễ. Phải nói lúc ấy còn nhỏ quá chẳng hiểu gì cả, chỉ thấy sợ cái không khí âm u, đèn nến mờ tỏ, khói nhang nghi ngút, cùng với quần áo sặc sỡ của người lên đồng, những động tác như múa kiếm, chèo thuyền, cầm nhang đèn cháy ngùn ngụt nhảy múa mà không hề hấn gì. Thêm vào đó là tiếng đàn, tiếng hát, lúc ấy không hiểu hát gì, và những người tham gia hầu đồng ngồi phía dưới chắp tay chăm chú vái lạy. Có một điều duy nhất không phải chỉ có tôi, mà đám con nít tới coi rất thích, là khi buổi lên đồng chấm dứt họ phát cho lũ trẻ những cái kẹo, oản... được bọc trong giấy bóng kính xanh đỏ gọi là lộc thánh ban. Điều đặc biệt của điện thờ là màu sơn của ngôi nhà, họ sơn màu vàng, màu đỏ rất chói, trong nhà lúc nào cũng thắp đèn đỏ mờ mờ, chủ nhân của điện thờ này là một bà đã có chồng con, lúc nào cũng mặc những bộ quần áo bằng sa tanh màu đọt chuối, đỏ, vàng... rất tươi, dáng điệu và thân hình của bà ấy trông hơi thô giống đàn ông, nhưng lúc lên đồng múa rất dẻo.

Khi tôi lớn hơn chút nữa, lúc đã học trung học, có nghe ở Sài Gòn có những nơi lên đồng như thế, ở những đền, miếu, đình... và một số điện thờ của tư nhân, nhưng lúc ấy tôi cũng không chú ý gì tới việc lên đồng. Bẵng đi một thời gian, cho tới khi tôi vào quân đội. Khoảng thời gian năm 1972 lúc ấy tôi đóng ở Quy Nhơn, gần một con phố (tôi nhớ là đường Tăng Bạt Hổ không biết có nhớ đúng không?), con đường này có vài nhà theo Đạo Mẫu nên hay tổ chức lên đồng. Thỉnh thoảng tôi cũng ghé xem, khung cảnh của những ngôi nhà này cũng tựa như điện thờ ngôi nhà khi tôi còn nhỏ, có điều không âm u bằng. Vài lần tôi ghé xem luôn được người trong nhà mời vào ngồi ghế đàng hoàng, lúc này tôi đã hiểu biết sơ qua chuyện lên đồng nên chú ý xem hơn, mới biết những ông Hoàng Mười, cô Bơ, cô Chín, bà Ngũ Hành, Thủy Long công chúa... đang nhập vào những bà đồng. Ngồi sát cạnh những đệ tử phía dưới tôi thấy họ rất thành kính, họ hay nói lạy thánh, lạy cô, lạy cậu... và cũng xì xụp vái lạy. Cuối một giá đồng thánh ban phát lộc cho những đệ tử ngồi phía dưới, thường là tung bánh kẹo có cả tiền. Cũng có người đưa cho tôi lộc thánh như thế. Trong khung cảnh mờ mờ, mùi khói nhang, tiếng nhạc của giàn chầu văn cùng tiếng hát của cung văn hòa với điệu múa của cô đồng, và những nét mặt thành kính của những đệ tử (hồi đó đa số là quý bà quý cô) ngồi phía dưới tạo nên những cảm xúc khó tả cho cả người xem.

Sau năm 1975 thì ở Sài Gòn và có lẽ cả miền Nam vắng bóng chuyện lên đồng. Tuy nhiên về sau này từ thời mở cửa nghe nói có một số đền, miếu đã tổ chức hầu đồng trở lại...

Thứ Bảy, ngày 03 tháng 12 năm 2016

Hầu đồng.

Ảnh Internet.

Sau những Di sản văn hóa phi vật thể của Việt Nam được UNESCO vinh danh như Nhã nhạc cung đình Huế, Dân ca quan họ Bắc Ninh, Ca trù, Hát Xoan, Đờn ca tài tử Nam bộ, Không gian văn hóa cồng chiêng, Ví giặm Nghệ Tĩnh, Hội Gióng..., nay đến Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của Tín ngưỡng thờ Mẫu (còn gọi là Đạo Mẫu).

Tín ngưỡng thờ Mẫu (Tam phủ, Tứ phủ) trong dân gian Việt Nam đã có từ thời xa xưa do ảnh hưởng Mẫu hệ, bắt nguồn từ tục thờ nữ thần. Ngày xưa những hiện tượng thời tiết trong thiên nhiên như mây, mưa, sấm, chớp đã được thần thánh hóa trong hóa thân của nữ thần (Pháp vân, Pháp vũ, Pháp lôi, Pháp điện - Tứ pháp). Kết hợp với Đạo giáo du nhập từ Trung Hoa, tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam là mô hình hóa vũ trụ quan của người Việt, là một không gian thể hiện thứ bậc của của các nữ thần cai quản:

- Thánh mẫu Thượng Thiên: cai quản trời, chủ tể của mây, mưa, sấm chớp (trng phục màu đỏ).

- Thánh mẫu Thoải (Thủy): cai quản thủy phủ (trang phục màu trắng).

- Thánh mẫu Thượng Ngàn: cai quản rừng núi (trng phục màu lam).

Ba vị Thánh mẫu trên là hệ thống Tam phủ hay còn gọi là Tam tòa Thánh mẫu. Sau này người Việt sáng tạo thêm Thánh mẫu Địa phủ (Tứ phủ) (trang phục màu vàng).

Dưới bốn Thánh mẫu kể trên còn có những quan thừa hành, các thánh bà, ông hoàng, các cô, cậu, quan Ngũ hổ, cuối cùng là ông Lốt (rắn).

Không gian thờ Mẫu là các đền, phủ, miếu, điện...

Ở nước ta, tín ngưỡng thờ Mẫu không thể thiếu nghi thức lên đồng, còn được gọi là hầu đồng, hầu bóng, đồng bóng... Đây là một nghi thức trong tín ngưỡng dân gian của nhiều dân tộc. Lên đồng, là hình thức giao tiếp với thần linh thông qua các ông đồng, bà đồng. Khi thần linh nhập vào đồng, lúc đó các ông đồng, bà đồng là các vị thần linh, có thể chữa lành bệnh, ban phúc, trừ tà ma, cứu khổ, ban lộc cho các con nhang đệ tử.

Trong một buổi hầu đồng, khi một vị thánh nhập vào đồng (thánh giáng) là bắt đầu một "giá đồng", có tất cả 36 giá đồng tương ứng với 36 vị thánh (thực tế có đến 72 giá đồng). Mỗi giá đồng sẽ có một bộ trang phục riêng của thánh, đi kèm theo là khăn hầu, cờ quạt, đồ hầu... Khi thánh xuất (thánh thăng), trong bài hát của cung văn là "thánh giá hồi cung", là hết một giá đồng.

Người đứng giá đồng gọi chung là thanh đồng, thanh đồng là nam giới được gọi là Cậu, Quan, Ông... nữ giới được gọi là Cô, Bà...

Trong hầu đồng, không thể thiếu "hát văn" (chầu văn) do các "cung văn" đảm nhiệm. Sau khi thánh giáng, thanh đồng đã xong màn múa của thánh, nhiệm vụ của cung văn là vừa đàn, vừa hát, hoặc ngâm các bài thơ cổ kể về sự tích, lai lịch của thánh đang giáng. Cung văn hát, ngâm thơ hay thánh thường biểu thị sự hài lòng bằng cách thưởng tiền, lộc cho cung văn.

Hầu đồng rất tốn kém, bởi người hầu đồng phải sắm sửa quần áo, các vật dụng đi kèm theo một giá đồng, ngoài ra còn phải biện lễ vật đi kèm, ban phát lộc cho chúng sanh...

Trên đây là một vài nét cơ bản về hầu đồng (Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ), vừa được UNESCO công nhận là "Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại".

Ghi chép để chúng ta có thể hiểu rõ hơn về loại hình tín ngưỡng dân gian này, ở đây không nhằm mục đích tuyên dương hay phê phán.

Tham khảo:

- Lên đồng - hành trình của Thần linh và Thân phận, Ngô Đức Thịnh, NXB Trẻ-2007.

- Nghi lễ thờ Mẫu, Thuận Phước, NXB Thời Đại-2011.

- Hát Chầu văn, Bùi Đình Thảo - Nguyễn Quang Hải, NXB Hội Nhà Văn-2012.

- Tôn giáo trong văn hóa Việt Nam, PGS. TS Nguyễn Hồng Dương, NXB Văn hóa-Thông Tin-2013.

Thứ Bảy, ngày 26 tháng 11 năm 2016

Giảm giá.


"Thứ sáu đen" (Black Friday), nôm na là ngày mua sắm giảm giá tưng bừng tại Mỹ và nhiều nơi trên thế giới, ngày này là ngày thứ sáu ngay sau lễ Tạ ơn (Thanksgiving) rơi vào khoảng tuần lễ cuối tháng 11 hằng năm. Thấy trên mạng quảng cáo sách bán giảm giá tới 70%, toàn sách mới toanh, tôi thử vào xem thấy chẳng chọn được cuốn sách nào.

Hôm qua đi công chiện ngang qua tiệm sách cũ ghé vào xem, thời may "lụm" được vài quyển kể ra cũng tạm được, dĩ nhiên là sách cũ giá rẻ, bốn quyển này bà chủ tiệm lấy chẵn chòi 100k, bà ấy nói thôi bán đại cho bác, công bác đi lâu lâu bác mới lựa được mấy quyển. Thiệt tình càng ngày tôi mua sách càng thấy khó, sách mới ra nhiều mua cũng không phải là dễ, vì không hợp với cái "gu" đọc của mình. Trong bốn quyển sách này có quyển Từ điển du lịch dã ngoại, xuất bản từ năm 2000 dày tới 1300 trang, trông... bèo nhèo vậy chớ có nhiều thông tin về các địa điểm du lịch, dã ngoại hay. Ba quyển kia đọc lai rai có lẽ cũng tìm được vài điều thú vị.

Thứ Ba, ngày 22 tháng 11 năm 2016

Nghiệp dĩ 業已.



Sáng có bạn gởi tin nhắn hỏi về chữ "nghiệp dĩ". Ngày xưa lúc tôi còn nhỏ cũng hay nghe nói, chẳng hạn "Nghề này vốn là nghiệp dĩ của gia đình tôi", hoặc "Tôi đâu có chọn nghề này, nó đến như một nghiệp dĩ vậy".

Trong từ "nghiệp dĩ" có từ "nghiệp" là từ thường thấy được sử dụng trong Phật giáo. Từ điển Phật học của Đoàn Trung Còn viết như sau:

- Nghiệp 業, Karma (S), Kamma (P), Loi des Rétribution; acte (Fr.), nôm na "nghiệp" là "nhơn quả", là "định mạng", "việc làm", cái phải trả ở kiếp này do những gì chúng sanh đã tạo ra ở kiếp trước... Ta cũng thường thấy những thuật ngữ dùng trong Phật giáo như "nghiệp báo", "nghiệp chướng", "nghiệp duyên"...

Việt Nam Tự điển (Hội Khai Trí Tiến Đức): chỉ nói về nghĩa liên quan.

- Nghiệp 業. Nói về việc đã làm rồi, đã thành rồi.

- Nghiệp dĩ 業已. Nói sự đã có, đã sẩy ra rồi (chữ sẩy viết s).

Tự điển Việt Nam Lê Văn Đức (Lê Ngọc Trụ hiệu đính), Nhà sách Khai Trí, Sài Gòn 1971.

- Nghiệp dĩ tt. Đã qua, đã rồi, đã xảy ra.

Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên):

- Nghiệp dĩ t. (cũ). Vốn đã như thế rồi, như đã được định sẵn từ trước.

Từ điển Hán Việt của Trần Văn Chánh:

- Dĩ 已: đã, rồi.

- Nghiệp dĩ 業已: đã... rồi.

Ý nghĩa của từ "nghiệp dĩ" là như thế, Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên) giải thích khá rõ: "Vốn đã như thế rồi, như đã được định sẵn từ trước". Như ta thấy trong những câu: "Nghề này vốn là nghiệp dĩ của gia đình tôi", hiểu nôm na là "nghề này vốn [là nghề] đã có từ trước của gia đình tôi" (có khi đã qua mấy đời), ta hay nghe nói là "nghề gia truyền", đi ngoài đường thấy có bảng hiệu "Phở gia truyền", hoặc "Tôi đâu có chọn nghề này, nó đến như một nghiệp dĩ vậy", hiểu là "tôi không chọn nghề này, nó đến như một sự định sẵn [định trước] vậy". Nhiều khi sự định trước này không hề được mong muốn.

Tôi thấy "Nghiệp dĩ" là một từ ngày xưa được sử dụng trong giao tiếp, văn chương rất bình thường, chẳng có gì là văn hoa hay bí hiểm, khác với từ "thiên chức" là "phần việc tự nhiên, thiêng liêng của con người", bây giờ từ "nghiệp dĩ" ít được nghe nói.



Thứ Sáu, ngày 18 tháng 11 năm 2016

Đại gia - Thiếu gia.



Trên báo chí, người ta hay nói "đại gia" với ý nghĩa là người kinh doanh nhiều tiền lắm của, nhà giàu có, và "thiếu gia" với nghĩa là con của đại gia như vừa kể. Hồi nào tới giờ tôi (và có lẽ nhiều bạn khác nữa) cũng hiểu như thế.

Mới đây đọc trong "Rong chơi miền chữ nghĩa" quyển 2 của học giả An Chi, thấy có bạn đọc hỏi "Thiếu gia có phải là con của đại gia không?". Học giả An Chi trả lời như sau (xin rút gọn, lấy những ý chính):

(...)

Cả một rừng "thiếu gia" ở trên mạng, bắt nguồn từ sự thiếu hiểu biết về ngôn ngữ và văn hóa. Người ta mặc nhiên hiểu rằng "thiếu gia" là con của "đại gia" mà không ngờ rằng hai danh ngữ này chẳng có dây mơ rễ má gì với nhau. Đại gia 大 家 là một danh ngữ tiếng Hán, vốn có nghĩa là chuyên gia danh tiếng hoặc thế gia vọng tộc, đã được tiếng Việt hiện đại dùng theo một cái nghĩa rộng hơn: "nhà sản xuất, nhà kinh doanh lớn hoặc người tài giỏi, có tên tuổi trong một lãnh vực nào đó" (Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên).

Vì không liên quan gì với "đại gia" về mặt tạo nghĩa nên hai chữ mà bạn hỏi không thể viết thành "thiếu gia". Tuy tiếng Hán cũng có danh ngữ "lão gia" 老 家 dùng để chỉ cha, mẹ hoặc bậc trưởng bối trong phương ngữ của tiếng Hán, nhưng hai tiếng mà bạn hỏi thì lại liên quan đến danh ngữ "lão da" 老 爺 nên phải được viết thành "thiếu da" 少 爺 (với d- chứ không phải gi-). "Lão da" 老 爺 là một danh ngữ thời xưa dùng để gọi quan lại, chủ nhà (đối với người làm) hoặc kẻ có quyền thế. Đối với "lão da" là "thiếu da" 少 爺, mà thời xưa, tôi tớ dùng để gọi con nhà chủ, như có thể nghe thấy trong nhiều bộ phim Tàu, nhất là phim cổ trang. Liên quan đến chữ da 爺, ta còn có danh ngữ "đại da" 大 爺, nghĩa là ông lớn, cụ lớn; cũng dùng để chỉ vai bác (anh của cha) hoặc người đàn ông lớn tuổi hơn mình.

(...)

(Hết trích)

Trên tivi tôi thấy có chiếu một bộ phim cổ trang của Trung Quốc, trong phim tôi cũng hay nghe nói "đại gia (da)", "đại lão gia (da)", "thiếu gia (da)". Không rõ là "gia" hay "da"?

Chữ nghĩa thiệt rắc rối.



Thứ Hai, ngày 07 tháng 11 năm 2016

Xem Vua đầu bếp nhí.

Ảnh lấy từ trang FB của Vua đầu bếp nhí.

Xem chương trình Vua đầu bếp nhí trên tivi tôi rất thích thú với đám trẻ, có những nhóc chưa đến 10 tuổi đứng chưa cao hơn cái nồi đặt trên bếp vậy mà đã nấu ăn rất "nhẹn", món Tây, món Ta gì cũng biết, quả là có năng khiếu nấu nướng bẩm sinh, và hơn hết là tụi nhóc có tinh thần đồng đội tương thân tương ái rất cao, rất hồn nhiên...

Trong chương trình này tôi còn bắt gặp lại một khẩu ngữ mà tôi hay được nghe hồi còn nhỏ nơi người lớn, bây giờ gần như không còn nghe, nơi vị nữ giám khảo người Huế, đó là từ "Ô la la", khi vị nữ giám khảo này tỏ vẻ ngạc nhiên, thích thú về tài nấu ăn của tụi nhóc.

Có lẽ từ "Ô la la" này tương đương với từ "WOW" bây giờ.

Thứ Ba, ngày 01 tháng 11 năm 2016

Lịch sử.

Nhà thờ Cha Tam. Ảnh Internet.

Trong khu vực trung tâm Chợ Lớn (quận 5 hiện nay), có 3 ngôi nhà thờ cổ được xây dựng đã trên, dưới 100 năm nay theo kiến trúc của Tây phương, đó là nhà thờ Chợ Quán (nhà thờ Thánh Tâm Chúa Giêsu, nhà thờ Cha Tam (nhà thờ Thánh Francis Xavier), và nhà thờ Ngã Sáu (nhà thờ Thánh Jeanne d'Arc). Nhân dịp đầu tháng 11 này tôi muốn nhắc tới một sự kiện lịch sử có liên quan đến nhà thờ Cha Tam, và sự kiện này đã làm thay đổi chính trường miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ.

Nhà thờ cha Tam được xây dựng vào năm 1900 tại khu vực thuộc xóm Lò Rèn xưa ở Chợ Lớn. Theo lệnh của Thống đốc Nam Kỳ là La Grangdière*, giám mục Dépierre đã cử linh mục Pierre d'Assou**, tiếng Hoa là Đàm Á Tố (Tam A Su), tiếng Việt gọi là Cha Tam, Cha Tam đã đứng ra mua một thửa đất rộng 3 hecta tại xóm Lò Rèn. Sau 2 năm xây dựng nhà thờ khánh thành (1902). Cũng như nhà thờ Chợ Quán và nhà thờ Ngã Sáu, nhà thờ được xây dựng theo kiến trúc Tây phương, nhưng vì chủ yếu được xây dựng cho cộng đồng người Việt gốc Hoa theo đạo Công giáo cho nên được kết hợp những nét kiến trúc Á đông, như có cổng Tam quan, tên nhà thờ ghi bằng chữ Hán, mái lợp ngói âm dương, hai bên cửa ra vào có hai bức liễn viết bằng chữ Hán... Khi mất (1934), cha Tam đã được an táng ngay gần cửa ra vào nhà thờ.

Ngày 1-11-1963 đã nổ ra một cuộc đảo chính quân sự tại Sài Gòn, từ dinh Gia Long Tổng thống Ngô Đình Diệm và người em trai là Ngô Đình Nhu đã phải lánh đến nhà một người Hoa tên là Mã Tuyên trong Chợ Lớn. Sáng ngày 2-11-1963 hai ông đã đến cầu nguyện tại nhà thờ Cha Tam trước khi đầu hàng phe quân nhân đảo chính. Trên đường dẫn giải về Bộ Tổng Tham Mưu, hai ông đã bị sát hại trong một chiếc xe thiết giáp M 113. Cái chết của hai anh em TT Ngô Đình Diệm đã làm cho các đồng minh của người Mỹ ở Châu Á hoang mang, và miền Nam Việt Nam sau đó chìm vào trong những khủng hoảng chính trị. Từ tháng 1-1963 cho đến ngày 1-11-1967, miền Nam đã trải qua bốn đời chính phủ: Chính phủ Nguyễn Khánh, chính phủ Trần Văn Hương, Chính phủ Phan Huy Quát, và Chính phủ Nguyễn Cao Kỳ.

Nhiều năm trước đây (khoảng thập niên 1990), khi ghé nhà thờ Cha Tam tôi còn thấy nơi hàng ghế cuối của nhà thờ, có một tấm bảng nhỏ viết bằng tiếng Pháp, ghi lại sự kiện lịch sử này, hai anh em TT Ngô Đình Diệm đã đến đấy cầu nguyện, và sau đó đã bị giết trong một chiếc xe thiết giáp.

Ghi chú:

*La Grandière: có tên đầy đủ là Pierre Paul Marie De La Grandière (1807-1876), đại tá hải quân Pháp năm 1849, tham gia chiến tranh Crưm (1853-1856) chỉ huy hải đội.
Từ năm 1863 là chuẩn đô đốc, tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp xâm lược VN, kiêm Thống đốc Nam Kỳ. Là người tổ chức tấn công chiếm 3 tỉnh miền Tây (Vĩnh Long, Châu Đốc, Hà Tiên), đặt nền móng thiết lập nền đô hộ của Pháp ở Nam Kỳ. Tên La Grandière đã được đặt tên cho một con đường ở trung tâm Sài Gòn ngày trước, sau đổi thành đường Gia Long, nay là đường Lý Tự Trọng quận 1.

**Cha Tam: tên là Pierre d'Assou, có tên Thánh là Francis Xavier (Phanxicô Xaviê), sinh năm 1855 tại Macao. Khi 8 tuổi sang Sài Gòn ở cùng cha Philipphê, cha sở họ đạo Chợ Lớn. Năm 13 tuổi được gởi qua học tại Đại Chủng Viện Penang (Mã Lai). Năm 19 tuổi sau khi học xong tại Penang ông trở lại Sài Gòn học tại Chủng Viện Sài Gòn, và chịu các chức. Đến chức tư thì làm giáo sư dạy tại Chủng Viện. Mãi đến năm 1882 mới được đức cha Colombet phong Linh mục. sau đó cha Tam về làm phó tại Nhà thờ chính tòa Sài Gòn (Nhà thờ Đức Bà), và làm giáo sư dạy tại trường Tabert. Sau đó đã được giao cho việc tìm đất xây dựng ngôi nhà thờ mới tại Chợ Lớn, sau này do ông coi sóc và được gọi bằng tên ông.
Ngày 3-12-1900 nhân ngày lễ thánh Phanxicô Xaviê, Đức cha Mossard đã làm lễ đặt viên đá đầu tiên xây dựng Thánh đường, đến ngày 10-2-1902 Đức cha Mossard đã làm lễ khánh thành, và làm phép cho nhà thờ mới.
Cha Tam qua đời ngày 24-1-1934, và đã được an táng ngay tại nhà thờ bên cửa ra vào.

Tham khảo:

- Trang Wikipedia.
- Trang Tổng Giáo phận TP. HCM.
- Từ điển Thành phố Sài Gòn-Hồ Chí Minh (nhiều tác giả, NXB Trẻ-2001).



Chủ Nhật, ngày 30 tháng 10 năm 2016

Khổng tước.


Ảnh Tin Tin trên báo VNEXPRESS.

Mấy ngày nay đọc báo thấy viết có nhân viên của Thảo Cầm Viên, tục gọi nôm na là Sở Thú "dí" bắt được con chim quý lạc ở quận 3. Chim biết bay đàng hoàng, có báo như VNEXPRESS gọi là "khổng tước" (chim khổng tước), còn một số báo khác như Tuổi Trẻ, Thanh Niên gọi là "chim công", cụ thể là loại "chim công xanh" thuộc nhóm 1B quý hiếm trong Sách đỏ (báo Thanh Niên).

Khổng tước (孔雀) là từ Hán-Việt, trong đó "khổng" (孔) có nghĩa là "con công", còn chữ "tước" (雀), đa số các từ điển Hán-Việt (như từ điển Phổ thông, từ điển trích dẫn, từ điển của Thiều Chửu, Trần Văn Chánh, Nguyễn Tôn Nhan, Nguyễn Quốc Hùng) giải nghĩa là "chim sẻ". Chữ "tước" (雀) ngoài nghĩa là "chim sẻ", theo từ điển Hán-Việt của Trần Văn Chánh, Nguyễn Tôn Nhan có giải nghĩa thêm "tước" là "chim" (nói chung), chim sẻ gọi là "ma tước" (麻雀), chim công gọi là "khổng tước" (孔雀).

Ở miền Nam có địa danh Gò Công, tên Hán-Việt là "khổng tước khâu", có nghĩa là "gò có nhiều chim công".