Thứ Tư, ngày 21 tháng 9 năm 2016

Lão Tử và Saint Exupery.


Hợp bão chi mộc
合 抱 之 木

Sinh ư hào mạt
生 於 毫 末

Cửu tằng chi đài
九 層 之 臺


Khởi ư lũy thổ
起 於 累 土


Thiên lý chi hành
千 里 之 行

Thủy ư túc hạ
始 於 足 下

Lão Tử - Đạo Đức Kinh - Chương 64.

Nguyễn Tôn Nhan dịch nghĩa (bản của NXB Văn Học-1999):

Cây lớn một ôm

Sinh ra từ mầm nhỏ

Đài cao chín tầng

Bắt đầu từ sọt đất bé

Đi xa ngàn dặm

Bắt đầu từ một bước chân

Khoảng hơn 2500 năm trước Lão Tử* đã viết như thế trong Đạo Đức Kinh, những tư tưởng mà đến ngày nay vẫn còn nguyên giá trị.

"Cây lớn một ôm

Sinh ra từ mầm nhỏ"

Câu này làm tôi chợt nhớ đến Saint Exupéry, một nhà văn của nước Pháp đã viết trong Hoàng Tử bé khi chàng phi công bị rơi máy bay lạc giữa sa mạc: "Hỡi các bé con, hãy coi chừng bọn baobab".

Những cây cẩm quỳ (baobab) to lớn thế kia cũng chỉ bắt đầu bằng những hạt mầm nhỏ.


* Lão Tử: Lão Tử là một nhân vật mang nhiều tính chất huyền thoại trong lịch sử Trung Hoa, không rõ ông sinh và mất năm nào, là một tư tưởng gia thời Xuân Thu, người sáng lập ra học phái Đạo gia. Theo truyền thuyết ông họ Lý tên Nhĩ, tên tự là Bá Dương, tên thụy là Đam, người làng Khúc Nhân, huyện Khổ nước Sở (nay thuộc Hà Nam), truyền thuyết cho rằng sống ở vào thế kỷ thứ VI TCN, hoặc thế kỷ thứ IV TCN, được cho là người đã viết bộ Lão Tử, còn gọi là Đạo Đức Kinh.















Thứ Sáu, ngày 16 tháng 9 năm 2016

Chơi sách.



Mấy chục năm trước cụ Vương Hồng Sển viết quyển Thú chơi sách, phải nói ở Sài Gòn có lẽ khó có ai qua được cụ Vương trong chuyện chơi đồ cổ, chơi sách. Chơi đồ cổ, chơi sách, phải nói cụ là cao thủ võ lâm bậc nhứt thiên hạ, đọc Thú chơi sách của cụ mới biết, cụ sưu tầm sách đông tây kim cổ, các loại tạp chí ngày xưa. Quyển sách nào ưng cụ cho đóng bìa da mạ chữ vàng để trong tủ kiếng "câng" (cưng, chữ của cụ) hết biết. Một trong những nguyên tắc của người chơi sách là không cho mượn sách, đối với cụ Vương cũng thế, nhưng đôi khi vì một lý do bất khả, cụ đành phải cho bạn bè mượn quyển sách mình yêu quý, để đến khi quyển sách quay về thì hỡi ôi, quyển sách quý đã long gáy, gãy bìa, trang sách bên trong đã bị ghi chú chi chít, trang sách quý đã được đánh dấu bằng cách gấp lại, có khi những trang quan trọng bị xé mất, hoặc tệ hơn nữa là lâu ngày không thấy mang trả, khổ chủ sốt ruột quá cất công tìm kiếm, đến khi gặp mặt đòi thì chỉ nhận được cái cười trừ...

Mới đây đọc lại sách của Lê Quý Đôn (Vân Đài Loại Ngữ), thấy chép: "Sách Nhan Thị Gia Huấn chép: Mượn sách của người phải có lòng thương mến và bảo vệ sách. nếu sách ấy trước đã thiếu hay hư mình liền tu bổ ngay. Đó cũng là một trong trăm nết tốt của sĩ phu." Trên đây thấy viết Lê Quý Đôn chép từ sách Nhan Thị Gia Huấn, mà sách này là của Nhan Chi Suy (顏之推, 531-591), người đời Nam Bắc triều. gần mười lăm thế kỷ trước mà có người đã biết trân trọng sách và đã viết như thế rồi. Nói vể sách thì tôi cũng có được ít quyển, đa phần là sách từ điển, sách tra cứu, để thỉnh thoảng lấy ra tra một vài chữ, hay đọc để biết thêm chút ít kiến thức trong cái "sở học" vốn quá rỗng của mình. Nói về đọc thì tôi đọc sách đã nửa thế kỷ nay, và thời gian mua sách cũng thế. Thoạt đầu thiên về đọc sách văn học, rồi càng về sau (càng về già) lại thiên về những sách tra cứu như tôi đã kể. Cũng như cụ Vương, ngay từ trước năm 1975 ở Sài Gòn, những sách tôi mua mình thấy thích, tôi cũng đã bày đặt đi đóng bìa mạ chữ vàng (tiền đóng bìa sách có khi còn nhiều hơn tiền mua sách), còn những quyển khác thì bìa được ép plastic cẩn thận.

Cụ Vương dùng chữ "chơi sách" chứ không phải "sưu tầm", "chơi" có lẽ nghĩa rộng hơn "sưu tầm", đây là một trong những thú chơi phong lưu. Bản thân tôi chưa đạt được cái phong lưu của cụ, sách với tôi chủ yếu để học hỏi, nên nội dung trong sách là chính. Mua loại sách ngày xưa tôi cũng rán kiếm bản gốc, gặp sách đã tuyệt bản, hoặc bản gốc đắt quá rớ không nổi thì đành kiếm bản photo (miễn phô đúng theo nguyên bản), hoặc bây giờ là sách điện tử cũng được. Tôi nhớ có lần cách nay vài năm ghé một tiệm bán sách cũ quen, tình cờ thấy một quyển từ điển in trước năm 1975 ở Sài Gòn mà mình tìm lâu nay, hỏi giá chủ tiệm nói đúng một triệu đồng. Trong túi tôi lúc ấy không đủ tiền mua nên định vài hôm nữa sẽ ghé trở lại (nghĩ loại sách này ít ai cần), cuối tuần tôi ghé lại thì sách đã bán, sau tôi cũng kiếm được bản photo của quyển tự điến ấy với giá bằng 1/10 giá quyển gốc, nhưng tôi cũng tiếc mãi quyển sách ấy.

Đến nay tôi còn giữ được vài quyển sách cũ, tôi nhớ có ba quyển sách sau năm 1975 đã bị tịch thu trong cái "Sách nạn", mà tôi vẫn còn tiếc, đó là bộ Những người khốn khổ của Victor Hugo (sách dịch), quyển Sử ký Tư Mã Thiên của Giàn Chi và Nguyễn Hiến Lê dịch, và bộ sách khảo cứu về phong tục tập quán của học giả Toan Ánh tôi mua hồi đó, ba bộ này tôi cũng đã đem đóng bìa mạ chữ vàng cẩn thận. Mấy quyển như Từ điển Pháp-Việt (của Thanh Nghị) , Chiến Quốc Sách (cũng của Giản Chi và Nguyễn Hiến Lê dịch), Thiền và Phân tâm học, Dục tính và Văn minh, mà tôi đã đóng bìa và chụp post kèm theo bài viết là hồi đó đã... liều mạng dấu được, vì... tiếc quá (bây giờ mấy quyển sách này là chuyện cỏn con, nhưng lúc đó thật sự là liều mạng, vì mấy ông "cách mạng 75" ở địa phưng đi tịch thu sách thiệt sự là ông Trời con, các ông ấy mà biết là giấu sách "đồi trụy" chỉ cần chụp cho cái mão là khốn khổ.

Cuối tuần viết lan man ba điều bốn chuyện để mà chơi cho qua ngày.

Thứ Hai, ngày 12 tháng 9 năm 2016

Đàn cầm & Đàn sắt.


Ảnh Internet.

Đàn cầm, đàn sắt là hai loại đàn của người Trung Hoa xưa. "Sắt cầm hòa hợp" tượng trưng cho sự chung thủy, nghĩa vua tôi, tình chồng vợ, tình yêu, tình bè bạn. Cầm đài, ngày xưa là tên gọi chỉ chỗ Bá Nha thời Xuân Thu đánh đàn cho Chung Tử Kỳ nghe khúc Cao Sơn Lưu Thủy, và cũng là để chỉ nơi Tư Mã Tương Như thời Hán đàn cho Trác Văn Quân nghe khúc Phượng cầu Hoàng. Thúy Kiều cũng là một người giỏi về thơ nhạc, giỏi chơi đàn cầm:

Trong như tiếng hạc bay qua
Đục như nước suối mới xa nửa vời
Tiếng khoan như gió thoảng ngoài
Tiếng mau sầm sập như trời đổ mưa

(Thúy Kiều đàn cho Kim Trọng nghe lần đầu).

Đọc Vân Đài Loại Ngữ của Lê Quý Đôn viết về đàn cầm, đàn sắt như sau:

Về việc phân định của lục khí* thì đàn cầm, đàn sắt là khó nhất.

- Đàn cầm mỗi điệu phải sửa dây.

- Đàn sắt mỗi điệu phải dời cây trụ.

- Cao thấp cùng sinh ra, lý rất huyền diệu.

Cung là vua, là cha.

Thương là tôi, là con.

Cung và thương hòa nhau thì vua tôi, cha con hòa nhau.

Chủy là lửa.

Vũ là nước.

Phương Nam là vị của lửa.

Phương Bắc là chỗ của nước.

Thường khiến thinh thủy suy, thinh hỏa thịnh thì có thể giúp Nam mà nén Bắc.

Cung là chồng.

Chủy là vợ.

Thương là cha.

Cung thực là con của chủy, thường muốn dùng con giúp mẹ, dùng vợ giúp chồng, rồi sau thinh thành văn.

Chủy thịnh thì cung xướng lên mà giao hòa.

Thương thịnh thì chủy có con, mà sinh sinh hóa hóa khôn cùng.

Người khéo đạt âm luật phải cứ đó mà xoay sở.

(Hết trích)

Người chơi giỏi nhạc cụ của Tây phương đạt đến nghệ thuật, còn người chơi giỏi nhạc cụ của Đông phương như đàn cầm, đàn sắt có lẽ đã đạt đến triết lý, đã chạm đến cõi thâm sâu của trời đất và con người.

Ghi chú:

* Lục khí: để chỉ bát âm. gồm sáu nhạc khí cho lục âm là : chuông, huyên, đàn, sênh, sáo, cộng thêm cách âm (các loại trống bịt bằng da) và mộc âm (các nhạc khí bằng gỗ như song lan, mõ).





Thứ Hai, ngày 05 tháng 9 năm 2016

Vua Hùng hạ bút.

Bãi biển Thiên Cầm ngày nay. Ảnh của trang Wikipedia.

Hôm trước. xem trong một chương trình game show trên tivi, thấy có một câu hỏi liên quan đến tên một bãi biển thuộc huyện Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh. Người dẫn chương trình nói, (đại ý) đó là bãi biển Thiên Cầm, vua Hùng thứ 13 khi qua đây đã hạ bút viết Thiên Cầm, Thiên là Trời. Dĩ nhiên đây là đáp án của chương trình, không phải là ý kiến của người dẫn chương trình. Nghe qua cảm thấy ngờ ngợ.

Thử hỏi "lão Gu Gồ" thấy trang Wikipedia viết: 

Truyền thuyết:

Vào thời Vua Hùng thứ 13, qua đây nghe gió, sóng biển và tiếng lá thông reo cùng dội vào vách núi tạo nên một bản nhạc du dương, ngỡ như tiên gẩy đàn. Nhà Vua lệnh cho quần thần leo lên núi thấy giống chiếc đàn tỳ bà, liền hạ bút phê ba chữ Thiên Cầm Sơn. "Thiên cầm" có nghĩa là "đàn trời".
Truyền thuyết khác Hồ Quý Ly khi bị quân Minh đuổi đến đây thì bị bắt nên gọi là Thiên Cầm (trời giữ)

Ngờ ngợ ở đây là chỗ, sách sử chép, thời xã hội Lạc Việt của các vua Hùng thì "trong truyền thuyết cũng như trong di vật còn lại không có dấu vết gì tỏ rằng người Lạc Việt đã có văn tự" (Lịch sử cổ đại Việt Nam, Đào Duy Anh, NXB Văn Hóa Thông Tin-2010). Cũng theo sách sử, thì chữ Hán được truyền vào nước ta từ thời Bắc thuộc lần thứ nhất (111 trước CN đến năm 39 CN), thời các vua Hùng thì nước ta chưa có chữ Hán, nói rộng ra là chưa có văn tự.

Đọc đoạn trên của trang Wikipedia ta thấy, chữ "Thiên Cầm" của vua Hùng thứ 13 hạ bút rõ là chữ Hán, và như ta thấy có hai truyền thuyết về chữ "Thiên Cầm", một "Thiên Cầm" là "Đàn Trời" (Cầm là cây đàn). Hai là khi Hồ Quý Ly chạy đến đây thì bị bắt nên gọi là "Thiên Cầm" (Cầm là giữ, cầm giữ). Trong tiếng Việt phát âm là "Cầm" nhưng trong chữ Hán "Cầm" () là "đàn" (nhạc khí), viết khác với "Cầm" () là "cầm giữ". Nếu vua Hùng biết chữ Hán đã hạ bút phê Thiên Cầm () khi nghe sóng biển, thông reo dội vào vách núi tạo nên bản nhạc du dương, ngỡ như tiên gẩy đàn, thì chắc chắn đã viết chữ "Cầm" ()  là "đàn" rồi, vậy thì không thể có truyền thuyết sau này khi Hồ Quý Ly bị quân Minh bắt tại đây mới gọi "Thiên Cầm" () là "trời giữ".

Cũng may là chưa thấy có thêm truyền thuyết nói gọi là Thiên Cầm () vì bãi biển này có nhiều loài chim trời tụ tập. Nhưng cũng biết đâu đây mới là đúng, vì ở bãi biển hoang sơ các loài chim trời như hải âu, mòng biển, nhạn biển... tụ tập về sinh sống đông đúc là chuyện bình thường, người xưa thấy vậy nên gọi là "Thiên Cầm, "cầm" () ở đây có thể là "loài chim".

Viết để tám chơi nhân thấy hồi này thiên hạ tranh luận về việc dạy chữ Hán, chứ không có ý gì khác.



          

Thứ Ba, ngày 30 tháng 8 năm 2016

Xây vần & Xoay vần.

Tôi đọc sách trong đó có viết lại bài đăng trên báo Phụ Nữ Tân Văn ngày xưa ở miền Nam, bài có tựa: "GIA LONG TẨU QUỐC" của tác giả Nguyễn Đăng Cao, số 45, ra ngày 27-3-1930, đây là một bái hát nói, có đoạn:

Xem lịch sử nước nhà rồi ngẫm nghĩ
Cuộc trần hoàn khi vận bĩ lúc thời hưng.
Thật lá lay, tạo hóa khéo xây vần,
Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê rồi tới Nguyễn.
............

Trong đoạn hát nói bên trên tôi chú ý tới từ "xây vần". Đây không phải là lần đầu tiên tôi nghe nói đến từ "xây vần", trước đây thỉnh thoảng có nghe mấy "ông già Nam bộ" hay nói, thay vì nói "xoay" thì họ phát âm "xây". Người miền Nam hay phát âm nuốt chữ hoặc dư chữ, dư chữ kiểu như "thiêm thiếp iêm liềm ở dưới trời Nam", còn nuốt chữ chẳng hạn con cái tên Tuấn ngày trước nghe họ gọi là "Tứng". Kiểu phát âm dư chữ hoặc nuốt chữ nếu viết thì thành sai chính tả.

Rảnh rỗi ngồi xem lại tự điển mới hay trường hợp từ "xây" trong "xây vần" hoàn toàn không phải là do cách phát âm, từ "xây" được ghi nhận trong Từ điển phương ngữ Nam bộ do Nguyễn Văn Ái chủ biên (NXB TP. HCM-1994):

- xây. đgt. 1. Xoay. Xây lưng lại. Xây quanh. Xây xở. 2. Quay. Nhà xây cửa ra sông.

Đại Nam Quấc âm Tự vị của Huình Tịnh Paulus Của xuất bản ở Sài Gòn năm 1895-1896, còn giải nghĩa cặn kẽ hơn:

- Xây. Đâm chọt nhẹ nhẹ; ngoáy váy.

- Vần. Xây trở.

- Xây vần. Luân chuyển, xây qua xây lại.

Xa hơn nữa là Tự điển Việt-Bồ-La (1651) của Giáo sỹ Đắc Lộ (Bản dịch của nhóm Thanh Lãng, Đỗ Quang Chính, Hoàng Xuân Việt, NXB KHXH-1991):

- Xây: xem Xêy.

Xêy đi xêy lại: Làm xoay vần một vật gì.

Như vậy từ "xây" với nghĩa là "xoay" đã có từ đời cố hỉ nào rồi (ít ra là từ đời cố đạo Đắc Lộ).

Xem tiếp Tự điển Việt-Bồ-La không thấy từ "xoay".

Từ "xây" còn được ghi nhận trong Việt Nam Tự Điển của Hội Khai Trí Tiến Đức xuất bản tại Hà Nội năm 1931:

-  Xây. Xoay: Xây lưng. Trời đất xây vần. Chạy xây quanh.

Tra đến đây tôi có một câu hỏi: Vậy phải chăng "xây" là từ cổ mà sau này ta viết thành "xoay"? Xem tiếp thì thấy từ "xoay" đã hiện diện trong Truyện Kiều của Nguyễn Du:

Mà xem con tạo xoay vần đến đâu (câu 1116).

Đã xoay đến thế còn vần chưa tha (câu 2158).

Còn từ "xây" trong Truyện Kiều chỉ được ghi nhận ở nghĩa thông thường là "xây dựng".

Thành xây khói biếc non phơi bóng vàng. (câu 1604).

Tuy nhiên từ Tự điển Việt-Bồ-La thời giáo sỹ Đắc Lộ (1651) đến thời Truyện Kiều (viết trong khoảng 1814-1820) của Nguyễn Du ta thấy cách nhau khá xa.

Thời giáo sỹ Đắc Lộ ở An Nam, thì nước ta mới chỉ đến Thuận Hóa, nghĩa là từ Thừa Thiên Huế trở ra, riêng Thuận Hóa là từ Thừa Thiên Huế đến Quảng Bình (xưa gọi là Đàng Trong), mà những năm ở An Nam giáo sỹ Đắc Lộ sống ở Đàng Trong (địa giới do chúa Nguyễn kiểm soát) nhiều hơn Đàng Ngoài do vua Lê, chúa Trịnh kiểm soát. Theo sách vở thì tồng cộng thời gian Đắc Lộ ở Đàng Trong là 7 năm (từ năm 1624 đến năm 1626, và từ 1640 đến 1645). Thời gian ông ở Đàng Ngoài là 3 năm (1627-1630) và bị chúa Trịnh trục xuất. Khi ở An Nam thì hoạt động truyền giáo của giáo sỹ Đắc Lộ thuận tiện hơn ở Đàng Ngoài. Có lẽ từ "xây" với nghĩa là "xoay" được sử dụng ở Đàng Trong, rồi sau đó theo các di dân vào miền Nam để trở thành phương ngữ Nam bộ như đã được ghi nhận trong sách vở.

Chữ nghĩa thế đấy, đụng vào rối như tơ vò.



Thứ Sáu, ngày 26 tháng 8 năm 2016

Tên vài loại bánh dân dã.


Ảnh Internet.

Chắc các bạn đã từng ăn những loại bánh dân dã trong miền Nam, như bánh tét, bánh ít, bánh cúng, bánh ngói, bánh ít trần, bánh ú, bánh hỏi... Bánh tét nghe nói viết trại từ chữ "tết" mà ra, còn gọi là bánh ít bởi bánh gói... ít quá, lủm một miếng là hết... Tình cờ hôm nay đọc được một đoạn trong một bài viết đã có trên... 100 năm, viết về tên gọi của một số loại bánh:

............
"Các thứ bánh khi xưa cũng đã đặt tên rồi. vậy mà nay còn kêu tên sai trại bẻ tên hết. Như bánh Tết hay tiết nguyên ngày ngươn đán, mồng một tháng giêng kêu là ngày xuân, rồi sau lần lần kêu là ngày Tết, nguyên xưa ăn chơi ngày tiến ngươn đán thiệt là thú vị lắm, chẳng lo sự làm ăn, những lo ăn chơi du san du thủy (du phương thảo địa) nên gói bánh ấy đem theo mà ăn nên kêu là bánh tết - bây giờ lại kêu là bánh tét, nghĩa là tét ra từ khoanh (miếng) mà ăn, cũng còn cho phải. Còn như bánh ếnh, sao lại kêu là bánh ít? Khi gói rồi sắp lớp nhau đó như hình con ếnh nên kêu bánh ếch. Bánh cuốn là cuốn lá tròn đặng bỏ nếp vô cột bít lại mà nấu, tục kêu là bánh cúng, bánh nào lại không cúng được? Bánh ngói là hấp bột nửa sống rồi nắn dẹp như miếng ngói mà gói lại, thì phải kêu bánh ngói, chớ bánh gói sao cho thuận? Không phải một thứ bánh đó phải gói. Như bánh ếch trần là bột và nhân làm bột bánh là để trần không gói lá áo nên phải kêu cho trúng là bánh ếch trần mới phải. Bánh ấu là gói bốn góc nhọn trái ấu chớ kêu bánh ú là trại bẹ. Bánh cặp là gói hai bánh cột cặp, chớ kêu bánh cấp thì xa lắm. Bánh xối là bánh ăn còn nóng thoa mỡ hành ăn liền mới ngon, bây giờ kêu là bánh hỏi".
.............

Tác giả đoạn văn viết về tên gọi một số loại bánh kể trên là LÊ NGỌC KHUÊ trong bài viết có tên "Tiếng nói chính" của báo LỤC TỈNH TÂN VĂN, số 47, chủ bút đầu tiên là ông Gilbert Trần Chánh Chiếu, số ra ngày 8-10-1908, tức là đã 108 năm nay.

Đoạn trong bài viết kể trên cho ta thấy văn phong và cách dùng từ ngữ đặc trưng Nam bộ khi xưa, và đặc biệt viết rất trúng chính tả. Về chính tả có thể do tác giả bài viết giỏi từ ngữ, hoặc báo có ông thày cò giỏi chữ nghĩa, đã xem và chỉnh sửa lại cẩn thận bài viết trước khi cho đăng báo.



Sách tham khảo:

- Những bước đầu của Báo chí, Truyện ngắn, Tiểu thuyết & Thơ mới, Bùi Đức Tịnh (NXB TP. HCM-2002).



Chủ Nhật, ngày 21 tháng 8 năm 2016

Chữ Quốc ngữ.

Chị G. Mai, một người bạn quen biết lâu nay nói "Hôm nào bác Phạm Ngọc Hiệp gom chữ viết thời Alexandre de Rhodes ra viết một bài đi. Tôi có nói với chị G. Mai chữ viết thời đó viết vài quyển sách cũng không đủ. Nhưng cũng xin viết một cái gì đó về chữ Quốc ngữ thời xưa đó theo ý của chị G. Mai.

Chắc chị G. Mai còn nhớ bài học thuộc lòng từ thuở nhỏ:

Chữ Quốc ngữ
chữ nước ta
con cái nhà
đều phải học
miệng thì đọc
tai thì nghe
đừng ngủ nhè
chớ láu táu

Chữ Quốc ngữ là chữ cách nay mấy trăm năm do các giáo sỹ Tây phương làm ra để truyền đạo, mà công đầu thuộc về giáo sỹ Dòng Tên Alexandre de Rhodes (1591-1660), viết theo chữ Quốc ngữ là A Lịch Sơn Đắc Lộ, ông có công soạn ra quyển tự điển ta hay gọi là Tự điển Việt-Bồ-La in năm 1651 tại Roma, bây giờ vẫn còn lưu lại. Trải qua mấy trăm năm, chữ Quốc ngữ ta dùng ngày nay đã rất hoàn chỉnh (dĩ nhiên tôi muốn dùng chữ "rất" một cách tương đối).

Như ta đã biết, thoạt đầu chữ Quốc ngữ được các giáo sỹ Tây phương sáng tạo ra với mục đích truyền đạo Công giáo ở nước ta, cho nên những dấu tích của chữ Quốc ngữ thời sơ khai còn tìm thấy nơi những tài liệu của các giáo sỹ thời ấy:

"... ếy cệy mà bây nhêu sự nây ở tlão đức chúa blời, là chúa cả làm nên blời, đết, cũ mọi sự..." (ấy vậy mà bấy nhiêu sự này ở trong đức chúa trời, là chúa cả làm nên trời, đất, cùng mọi sự...).

Phép giàng ngày thứ hai trpng Phép giảng tám ngày của giáo sỹ Đắc Lộ in năm 1651 tại Roma.

"Tau rữa mầi nhân danh Cha, ùa Con, ùa Spirito santo. Tau lạy tên Chúa, tốt tên, tốt danh, tốt tiếng. Vô danh cắt ma, cắt xác, Blai có ba hồn bãy uía, Chúa blay ba ngôy nhân danh...". (Tao rửa mày nhân danh Cha, và Con, và Spirito santo (và Thánh thần). Tao lạy tên Chúa, tốt tên, tốt danh, tốt tiếng. Vô danh, cắt ma, cắt xác. Bay có ba hồn bảy vía. Chúa bay ba ngôi nhân danh...).

Thư của giáo sỹ Dòng Tên Marini viết năm 1645 tại Áo Môn.

"Lạy ơn Đ.C.B.phù hộ Thài bàng an linh hồn và xác. Từ nam Thài thái vè nhỏy, thì hay Thài ở lạy chịu nhèu sự khó lám, thì ràng chẳng có tlở vè são le cữ như vè 6ài". (Lạy ơn Đức Chúa Trời phù hộ Thày, bằng an linh hồn và xác. Từ năm Thày trẩy về khỏi, thì hai Thày ở lại chịu nhiều sự khổ lắm, thì rằng chẳng có trở về song le cũng như về vậy).

Thư của Isesico Văn Tín viết gởi cho Marini ở Roma vào ngày 12-9-1659.

"Nước Ngô thước hết mớy có Bua trị là Phục Hi. Bua thứ hai là Thần nôõ con cháu Bua Than nôõ sang trị nước Annam, liền sinh ra Bua Kinh dương Bương, thước hết  lãi 6ợ là nàng Thần Lão, liền sinh ra Bua Lạc Lão cuân. Lạc Lão cuân trị vì lãi 6ợ tên là Âu Cơ có thai đẻ ra một bao có một trăm trứng nở ra được một trăm con blay". (Nước Ngô trước hết mới có vua trị là Phục Hi. Vua thứ hai là Thần Nông. Con cháu vua Thần Nông sang trị nước Annam, liền sinh ra vua Kinh Dương Vương. Trước hết lấy vợ là nàng Thần Long, liền sinh ra vua Lạc Long Quân trị vì, lấy vợ tên là Âu Cơ, có thai đẻ ra một bao có một trăm trứng, nở ra được một trăm con trai).

Tập sử Việt của Ben Tô Thiện (1658).

Qua những thư, bài viết của các giáo sỹ Tây phương và Việt Nam kể trên, ta thấy chữ Quốc ngữ thời sơ khai cách nay mấy trăm năm, khoảng giữa thế kỷ thứ XVII tuy khá khó đọc với người ngày nay, nhưng đã hình thành các dấu để ghi âm tiếng Việt, thấy cũng tương đối, không khác về sau này bao nhiêu. Cũng nên lưu ý, thời gian này nước ta chỉ mới đến Thuận Hóa, cho nên chữ Quốc ngữ thời ấy mới chỉ ghi âm từ đó trở ra. Nhân đây xin giới thiệu một đoạn văn của một tác giả văn học miền Nam cách nay trên 60 năm, để ta có thể so sánh cách dùng chữ Quốc ngữ của từng thời và từng miền.

"Lửa hạ vừa tàng, gió thu đổ lá, kèn xe hơi rỉ rả, tiếng ngâm sầu nhặc nhặc khoan khoan. Nội cỏ bóng le the, trang vẻ cảnh vàng vàng dợt dợt, kìa xóng róng một đám rừng thông cụm liễu cây đứng xơ rơ, trợn mắt trơ trơ, dường như giận cái phong cảnh tiêu điều mà phai màu xũ lá. Nọ một giãi trường-san vọi vọi nằm dọc theo mé biển Đông-dương, dơ sống phơi sường, thiêm thiếp iêm liềm ở dưới trời Nam, dường như buồn thảm cái thời tiết đổi đời nên không động dạng". Đây là đoạn mở đầu của lịch sử tiểu thuyết GIỌT MÁU CHUNG TÌNH của tác giả Tân Vân Tử (ghi đúng phải là Tân Dân Tử) do nhà Phạm Văn Cường xuất bản lần thứ 8 năm 1954 tại Chợ Lớn.

Đoạn văn trên cho ta thấy rõ cách sử dụng từ ngữ, cách hành văn đặc trưng của một tác giả tiểu thuyết Nam bộ lúc bấy giờ, kể luôn cả cách viết sai chính tả. "kèn xe hơi rỉ rả", đúng ra phải là "kèn ve (con ve) hơi rỉ rả", có lẽ do in sai hoặc đúng là lỗi của tên đánh máy, còn viết sai chính tả thì lu bù.

Tham khảo:

- Tìm hiểu lịch sử chữ Quốc ngữ, Hoàng Xuân Việt (NXB Văn Hóa Thông Tin-2007).
- Những bước đầu của Báo chí, Truyện ngắn, Tiểu thuyết & Thơ mới, Bùi Đức Tịnh (NXB TP. HCM-2002).











Thứ Ba, ngày 16 tháng 8 năm 2016

Hình gì đây?

Ảnh Internet.

Đây là một tấm ảnh chụp từ ngày xưa đăng trên báo LIFE thời đó, ảnh khá ấn tượng, ngộ nghĩnh, chụp những người đàn ông ngồi vắt vẻo trên một hàng rào sắt, có vẻ như đang chăm chú theo dõi một cái gì đó phía trước mặt. Tuy ảnh chụp từ sau lưng, nhưng có lẽ ta dễ dàng nhận biết đây là những người bình dân, hoặc có dáng vẻ nông dân, trên đầu họ đội chiếc nón cối thực dân, hay những chiếc mũ nỉ có vành quen thuộc một thời, và điều khá đặc biệt là đầu họ mũ đàng hoàng nhưng chân đi đất chứ không mang giày dép chi cả.

Nhưng các bạn có biết họ đang ngồi theo dõi điều gì xảy ra trước mặt không? Chắc khó lòng có thể đoán được, nếu ta không tận mắt nhìn thấy cảnh này. Đây là một hình ảnh ít ra cũng phải có trên nửa thế kỷ nay ở Sài Gòn, hình ảnh này vẫn còn trong trí nhớ của tôi tuy đã rất lâu rồi. Nhìn hình thì tôi sực nhớ ngay ra nơi chụp, nơi mà thuở còn nhỏ gia đình tôi đã ở một thời gian dài tại khu vực này, và quãng thời gian đó cũng là một phần tuổi thơ của tôi.

Xin nói ngay, ảnh trên là chụp những người đàn ông đang xem đua ngựa tại Trường đua Phú Thọ ở Sài Gòn một dạo. Bạn nào ở Sài Gòn lâu năm chắc biết Trường đua ngựa Phú Thọ (sẽ gọi tắt là Trường đua), đây là trường đua ngựa do người Pháp thành lập từ năm 1932 tại khu vực Chợ Lớn (nay thuộc quận 11). Nơi đây tổ chức những cuộc đua ngựa có cá cược ăn tiền, thời tôi còn nhỏ hình như là một tuần tổ chức đua một hoặc hai lần gì đó, vào thứ bảy, chủ nhật cuối tuần. Ngay từ khi vào Nam, ông cụ bà cụ tôi đã ở con đường trước mặt cổng chính của Trường đua (bây giờ là đường Lê Đại Hành). Vì ở ngay trước mặt Trường đua, nên hồi còn nhỏ tôi hay cùng đám nhóc tì trong xóm vào xem đua ngựa, Trường đua ngựa rộng mênh mông, trong đó có đồng cỏ, ao hồ... cho nên tụi nhóc tì tha hồ chạy nhảy, thả diều, bắt dế, chuồn chuồn, châu chấu, câu cá, và cả đá bóng...

Hồi đó có hai khán đài và hai cổng vào chia thành hai khu vực kế nhau dành cho những người xem đua ngựa. Khu vực khán đài và cổng vào dành cho Tây, giới trưởng giả có tiền của gọi là "Cổng nhà giàu", khu vực khán đài và cổng vào dành cho giới bình dân gọi là "Cổng nhà nghèo". Bên khu vực khán đài dành cho giới bình dân luôn có những người không thích ngồi  trên khán đài phía xa theo dõi cuộc đua, mà leo lên dãy hàng rào sắt gần sát đường ngựa chạy để nhìn cho rõ, như các bạn đã thấy trên ảnh.

Đua ngựa thời đó chủ yếu là cá cược ăn tiền, cho nên rất hấp dẫn đám thích máu me ở Sài Gòn và những vùng lân cận, cả giới nhà giàu lẫn giới nhà nghèo, từ anh có tiền của, bá hộ nhà quê, đám dân nghèo thành thị đến anh nông dân. Cứ mỗi buổi đua ngựa là người ta lại đổ về nườm nượp. Mỗi cuộc đua có chừng chục con ngựa chạy có đeo số, lúc tôi còn nhỏ thì người ta gọi những con ngựa bằng tên của những nhân vật trong truyện Tàu, chẳng hạn ngựa Triệu Tử Long, ngựa Lý Quỳ, ngựa Phàn Lê Huê... Về sau này lại lấy tên của những nghệ sỹ cải lương, tân nhạc thời đó mà đặt, như ngựa Út Trà Ôn, ngựa Thành Được, ngựa Mai Lệ Huyền...

Ở đó bao nhiêu năm tôi cũng chẳng hiểu rõ cách đánh cá cược ra sao? Hình như trước mỗi lần đua người ta bán vé dự đoán những con ngựa về nhất về nhì, cặp đôi cặp ba (cặp đôi là ngựa về nhất nhì, cặp ba là ngựa về nhất nhì ba).Khi trúng thì tùy theo số tiền đã đặt cược và số vé trúng mà chia thưởng. Thường những con ngựa hay, chạy giỏi hay về nhất, nhì, nhiều người đánh thì khi chia tiền được ít, nhưng ít ra đánh một đồng khi trúng cũng được năm mười đồng.  Nghe nói có những kỳ "ngựa về ngược", nghĩa là những con ngựa xưa nay chạy dở ẹc chuyên "cầm đèn đỏ" (về chót), tự nhiên hôm đó về nhất, những trường hợp này vì có ít người cá cược cho nên số tiền trúng thưởng rất lớn, nghe nói có những người trúng bằng cả một gia tài, nhưng cũng không ít kẻ máu me cá cược đến tán gia bại sản...