Thứ Ba, 21 tháng 3, 2017

Chùa Ông - Chùa Ông Bổn.

Nhị Phủ miếu (Chùa Ông Bổn). Ảnh Internet.

Người bạn hỏi thỉnh thoảng ghé mấy ngôi chùa của người Hoa trong Chợ Lớn, chùa của họ quen gọi là chùa Ông, chùa Bà. Chùa Ông thờ Quan Công, chùa Bà thờ Bà Thiên Hậu, nhưng cũng có một ngôi chùa thờ "Ông Bổn Đầu Công" gọi là chùa Ông Bổn, hình như không phải thờ Quan Công?

Ngưởi bạn nói đúng, ở Sài Gòn mà tập trung trong Chợ Lớn có khá nhiều ngôi chùa của người Hoa (cũng còn được gọi là miếu hoặc hội quán). Những ngôi chùa này phổ biến thờ Quan Công, dân gian quen gọi là chùa Ông, và thờ bà Thiên Hậu, quen gọi là chùa Bà.

Như đã biết, ta thường thấy chùa Ông thờ Quan Công, tức Quan Vũ, Quan Vân Trường, một nhân vật thời Tam quốc nổi tiếng về võ dõng, chính trực, nghĩa khí, cũng còn được gọi là Quan Đế, được tôn vinh như bậc thánh. Ông được mệnh danh là một trong "Trung Hoa thập thánh"* và "Tam Quốc tứ tuyệt"**.

Trong Chợ Lớn còn có một ngôi chùa của người Hoa khác tọa lạc tại số 264 Hải Thượng Lãn Ông, quận 5 có tên là chùa Ông Bổn, còn gọi là Nhị Phủ miếu. Trước hết xin nói về tên gọi Nhị Phủ miếu, bởi xưa ngôi miếu này do di dân gốc ở hai phủ Chương Châu và Tuyền Châu thuộc tỉnh Phúc Kiến - Trung Hoa xây dựng. Xưa người Hoa ở Chợ Lớn được chia thành 5 bang theo tiếng nói là Quảng Đông, Triều Châu, Phúc Kiến, Hải Nam, Hẹ. Nhị Phủ miếu là hội quán của người Phúc Kiến, mỗi bang như vậy họ tổ chức rất tốt về đời sống và tinh thần, họ có chùa (hội quán), có bệnh viện, trường học (tiểu học và trung học)... để lo cho người trong bang.

Về tên gọi Ông Bổn, theo cụ Vương Vương Hồng Sển viết trong Sài Gòn năm xưa thì Ông Bổn là Thái giám Trịnh Hòa đời Vĩnh Lạc (1403 - 1424), được vua sai dùng thuyền đi khắp miền Đông Nam Á ban bố văn hóa Trung Hoa, và nhân tiện mua về cho vua kỳ trân dị bửu của các nước đó. Trịnh Hòa là một nhà du lịch, ngoại giao, địa lý, ngôn ngữ... giỏi, đi đến đâu ông cũng ban ơn thí đức, đưa người Tàu đến lập nghiệp. Đến khi ông mất dân Hoa kiều nhớ ơn thờ làm phúc thần, vua sắc phong cho ông là "Tam Bửu Công", cũng gọi là "Bổn Đầu Công" (giọng Tàu là Bủn Thầu Cúng), gọi tắt là Ông Bổn.

Ở một quyển sách khác, quyển Một Số Cơ Sở Tín Ngưỡng Dân Gian của Sở văn Hóa và Thông Tin TP. HCM & Ban Quản Lý Di Tích Lịch Sử Văn Hóa và Danh Lam Thắng Cảnh, in năm 2000 (nhiều tác giả). Trong đó có bài viết về Nhị Phủ miếu của Nguyễn Thị Minh Lý trích dẫn theo sách Gia Định thành Phật tích khảo cổ, bản chữ Hán lưu ở miếu Nhị Phủ (Lý Văn Hùng), và sách Người Hoa ở Việt Nam, Sài Gòn 1963 (Thi Đạt Chí), chép Bổn Đầu Công thờ ở miếu Nhị Phủ là Châu Đạt Quan, một viên quan sống vào thế kỷ XVIII (lưu ý sách viết thế kỷ XVIII) ở Trung Quốc, từng đi sứ đến nhiều nước ở Đông Nam Á, trong đó có vùng đất phía nam Việt Nam. Ông còn là nhà nghiên cứu lịch sử, dân tộc học... là tác giả quyển "Chân Lạp phong thổ ký".

Theo hai quyển sách trên, thì Ông Bổn là hai nhân vật khác nhau, một người là Thái giám Trịnh Hòa sống ở thế kỷ thứ XV, một người là Châu Đạt Quan sống dưới triều vua Thành Tông (1295 - 1308), trong sách Một Số Cơ Sở Tín Ngưỡng Dân Gian đã dẫn bên trên ghi ông sống ở vào thế kỷ XVIII là không đúng. Trong Lời nói đầu của sách Chân Lạp phong thổ ký của ông (Kỷ Nguyên Mới - Saigon 1973) ghi nhận Châu Đạt Quan sống dưới triều vua Thành Tông (1295 - 1308), tức là vào cuối thế kỷ XIII sang thế kỷ XIV trước cả Trịnh Hòa (thế kỷ XV).

Vài nét về sự khác biệt giữa Chùa Ông và Chùa Ông Bổn của người Hoa trong Chợ Lớn.

Tham khảo:

- Những sách đã dẫn.

Ghi chú:

* Trung Hoa thập thánh:

1- Văn Thánh Khổng Tử (nhà tư tưởng thời Xuân Thu);
2- Binh Thánh Tôn Vũ (nhà quân sự thời Xuân Thu);
3- Sử Thánh Tư Mã Thiên (nhà sử học thời Tây Hán);
4- Y Thánh Trương Trọng Cảnh (lang y thời Đông Hán);
5- Võ Thánh Quan Vũ (tướng lĩnh thời Đông Hán-Tam Quốc);
6- Thư Thánh Vương Hi Chi (nhà thư pháp thời Đông Tấn);
7- Họa Thánh Ngô Đạo Tử (họa sĩ thời Đường);
8- Thi Thánh Đỗ Phủ (nhà thơ thời Đường);
9- Trà Thánh Lục Vũ (nhân vật thời Đường);
10- Tửu Thánh Đỗ Khang (nhân vật thời Chu).

** Tam Quốc tứ tuyệt:

1- Tuyệt nhân: Lưu Bị.
2- Tuyệt trí: Khổng Minh Gia Cát Lượng.
3- Tuyệt nghĩa: Quan vân Trường.
4- Tuyệt gian: Tào Tháo.

Chủ Nhật, 5 tháng 3, 2017

Cột cờ Thủ Ngữ và Nhà Rồng.




Cột cờ Thủ Ngữ và NHà Rồng. Ảnh Internet.

Lịch sử của Sài Gòn chỉ chừng trên 300 năm nay, nếu tính từ mùa xuân năm Mậu Dần (1698) chúa Nguyễn Phúc Chu chính thức cử Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lược, sách Gia Định thành Thông chí chép "lấy đất Nông Nại làm phủ Gia Định, lấy xứ Đồng Nai làm huyện Phước Long, lập xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình, đặt dinh Trấn Biên (Biên Hòa) làm dinh Phiên Trấn".

Một vài kiến trúc xưa gắn liền với lịch sử của đô thành Sài Gòn đã trở thành cổ tích, có thể kể đến Cột cờ Thủ Ngữ và Nhà Rồng:

- Cột cờ Thủ Ngữ: Sách Sài Gòn năm xưa của cụ Vương Hồng Sển chép:

Sông Thị Nghè giáp với rạch Bến Nghé, chổ giáp nước là một cái thoi loi gie ra ngoài sông, phong cảnh rất đẹp, gió mát từ Ô Cấp thổi vào tư mùa. Người Pháp dựng tại đây một cột cờ tên gọi "cờ Thủ Ngữ" (mât des dignaux). Sau đây vì có quán rượu trứ danh chiêu mộ anh hùng mặc khach1 rất đông, nên bợm rượu đặt tên rất khôi hài là "Mũi đất bọn tán dóc" (Pointe des Blagueurs) (Truy ra dưới thời Nam triều chỗ này gọi là "trạm Gia Tân).

"Gia Tân nền tạm thuở xưa,

Ngày nay có dựng cột cờ gần bên".

(Kim Gia Định phong cảnh vịnh, bản in Trương Vĩnh Ký, tr.7).

Trên chót vót ngọn cờ thường thấy treo ám ngữ, ban ngày là cờ vải, cờ màu, hoặc một quả bóng sơn đen. Ban đêm thì treo một ánh đèn, khi trắng khi đỏ, tức là ám hiệu báo tin cho tàu bè biết hiệu li5ng tránh lỗ rạn hiểm nguy, ghe thuyền qua lại, trong lúc vô ra sông Sài Gòn.

Nghĩ cho hồi đời xưa, lúc chưa có xe ô tô lộng lẫy thì đi đó đi đây toàn là "cuốc bộ", sang lắm mới được xe kiếng, xe song mã v.v... Bởi các cớ ấy nên khúc đường từ "Dinh Thượng Thơ" đổ qua "Dinh Phó Soái" rồi ăn xuống tới "Cột cờ Thủ Ngữ" đã kể cho là xa mút tí tè...

(Hết trích)

Về chữ Thủ Ngữ, ở Sài Gòn có vài địa danh mang chữ "Thủ", như Thủ Thiêm, Thủ Đức, xa hơn nữa ta có Thủ Dầu Một ở Bình Dương, Thủ Thừa ở Long An... Theo Đại Nam Quấc Âm Tự Vị, "Thủ" có nghĩa là "giữ, giữ gìn", "Thủ ngữ" là "Chức quan giữ cửa biển, đồn thủ tại cửa biển".

Theo sách vở thì cột cờ Thủ Ngữ được xây dựng vào tháng 10 năm 1865. Trên một tấm ảnh chụp có cột cờ Thủ Ngữ và cả Nhà Rồng, ta thấy ghi năm 1882.

- Nhà Rồng (cũng hay gọi là Bến Nhà Rồng): Theo sách vở ghi chép lại thì Nhà Rồng là một tòa nhà được xây dựng vào ngày 4 tháng 3 năm 1863 bởi hãng Vận tải đường biển của Pháp Messageries Maritimes, như vậy được xây dựng trước trước cột cờ Thủ Ngữ 2 năm và gần kề bên cột cờ Thủ Ngữ. Sở dĩ tòa nhà được gọi là Nhà Rồng bởi trên nóc nhà có gắn một cặp rồng bằng đất nung tráng men xanh. Có một chi tiết nếu chú ý, ta thấy trên ảnh ban đầu cặp rồng được gắn theo thế quay mặt vào nhau, kiểu "Lưỡng long tranh châu", hay "Lưỡng long chầu nguyệt". Nhưng đến năm 1945 tòa nhà khi ấy bị Nhật chiếm, đã bị máy bay đồng minh bắn phá hư hỏng, sau khi sửa chữa thì cặp rồng đã được gắn quay đầu ra ngoài.

Nhà Rồng hiện nay là Bảo tàng Hồ Chí Minh, nơi đây ngày 5 tháng 6 năm 1911 người thanh niên Nguyễn Tất Thành (sau này là Hồ Chí Minh) đã ra đi tìm đường cứu nước.

Tham khảo:

- Các sách đã dẫn.

- Cửa sổ tri thức, PGS. TS Lê Trung Hoa, NXB Trẻ - 2005.

- Hỏi đáp về Sài Gòn - TP. HCM, Tập 6 Kiến trúc, Tín ngưỡng, nhiều tác giả, NXB Trẻ - 2007.

Chủ Nhật, 5 tháng 2, 2017

Tên một vài đường phố ở Sài Gòn - Chợ Lớn thời Pháp thuộc.

Rue Bangkok (đường Mạc Đĩnh Chi). Ảnh Internet.

Rue Catinat (Tự Do - Đồng Khởi). Ảnh Internet.

Route Haute (đường Trên - Nguyễn Trãi, Chợ Lớn)

Năm 1861 thành phố Sài gòn được thành lập bởi một nghị định của phó đô đốc Leonard Charner (tiếng Pháp Ville de Saigon). Diện tích thành phố Sài Gòn lúc bấy giờ khoảng 25 cây số vuông, bao gồm khu vực Sài Gòn cũ (khu vực Đề Ngạn tức Chợ Lớn sau này) và Bến Nghé.

Năm 1862 một hòa ước được ký kết giữa đại diện của triều đình Huế là Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp, và đại diện của Pháp và Tây Ban NHa là Bonard và Palanca, gọi là Hòa ước năm Nhâm Tuất, gồm 12 điều khoản. Trong đó khoản 3 ghi: "Nhượng trọn chủ quyền 3 tỉnh Biên Hòa, Gia Định, Địng Tường và đảo Côn Lôn (Côn Sơn), tức là 3 tỉnh miền đông và đảo Côn Lôn, trong đó có thành phố Sài Gòn đã được người Pháp thành lập vào năm 1861, bao gồm cả vùng Sài Gòn (Chợ Lớn sau này) và khu Bến Nghé cũ.

Đến năm 1865 quyền Thống đốc Nam Kỳ lúc bấy giờ là chuẩn đô đốc Pierre Roze đã ký nghị định ngày 3-10-1865, quy định thành phố Sài Gòn (Ville de Saigon) chỉ còn 3 cây số vuông tại khu vực Bến Nghé, đồng thời thành lập thành phố Chợ Lớn (Ville de Cholon) tại khu vực Sài Gòn cũ.

Từ năm 1861 sau khi chiếm được thành Gia Định và triệt hạ thành, người Pháp đã bắt đầu xây dựng những con đường. Cùng với việc thành lập thành phố Sài Gòn và thành phố Chợ Lớn, từ năm 1865, người Pháp đã đặt tên cho các con đường tại hai thành phố này, lúc bấy giờ là những con đường nhỏ hẹp sử dụng cho người đi bộ, và những phương tiện thô sơ, như xe ngựa, xe bò, xe kéo...

Người Pháp đã đặt tên cho những con đường mới mở ở Sài Gòn - Chợ Lớn theo nhiều tên gọi. Ở Sài Gòn có những con đường đặt theo tên của những người danh tiếng như: Rue Catinat (Tự Do - Đồng Khởi), Catinat là tên một thống chế, Boulevard Charner (Nguyễn Huệ), Charner tên một đô đốc, Boulevard Bonard (Lê Lợi), Bonard tên của một đề đốc, một trong những thống đốc của Nam Kỳ, Rue Grandière (Gia Long - Lý Tự Trong), Pierre de La Grandière, đề đốc, cũng là một thống đốc Nam Kỳ, Rue Doumer, Paul Doumer là tên của vị Toàn quyền Đông Dương, Rue Blanchy (Hai Bà Trưng), Paul Blanchy tên một thương gia Pháp đã làm Thống đốc Nam Kỳ gần 20 năm, Rue Barbé, Barbé tên một đại úy Pháp (quan ba) bị giết gần chùa Khải Tường bởi nghĩa quân của Trương Định, Rue miss Cavell (Huyền Trân Công Chúa), cũng có sách viết là Cauwel tên một nữ y tá người Anh bị Đức xử bắn trong thế chiến thứ I, Rue Chasseloup Laubat (Hồng Thập Tự - Nguyễn Thị Minh Khai), Chasseloup Laubat là Bộ trưởng Pháp quốc Hải ngoại, Rue d' Adran - Cha Cả, giám mục Bá Đa Lộc (Hồ Tùng Mậu) Rue Lefrère (Nguyễn Công Trứ), Lefrère là tên một vị giám mục sau giám mục Bá Đa Lộc. Có những đường đặt theo những tên gọi khác, như: Rue d' Espagne (Lê Thánh Tôn), Quai de Belgique (Bến Bạch Đằng), Rue Bangkok (Mạc Đĩnh Chi), Rue Hongkong (Nguyễn Hậu - Nguyễn Văn Bình), Rue Shanghai - đường Thượng Hải (Nguyễn Trung Ngạn), Rue Cap St Jacques (Nguyễn Trung Trực), Rue Noel (Nguyễn Huy Tự), Rue des Mois (đường Mọi - Phan Đình Phùng - Nguyễn Đình Chiểu)...

Ở Chợ Lớn ngoài những tên đường nhân vật danh tiếng, còn có những tên đường đặt theo những chủ đề khác như: Rue Paris (Phùng Hưng), Rue Canton - đường Quảng Đông (Triệu Quang Phục), Rue Cambodge, sau đổi thành đường Kim Biên, Kim Biên tiếng Hán Việt là tên gọi của thủ đô Phnom Penh, Route Haute, đường Trên (Nguyễn Trãi), Route Basse, đường Dưới (Hàm Tử), đường này có trước đường Trên, Rue d' Annam (Mạc Thiên Tích), Rue des Marins - đường Thủy binh (Đồng Khánh - Trần Hưng Đạo B), Quai de Foukien (Bến Phúc Kiến), Quai de la distillerie (Bến Nhà máy rượu). Một số đường khác mang tên Việt (những con đường này vẫn còn giữ nguyên tên đến bây giờ), vì đi qua những khu vực, địa danh đã có tên Việt như: Rue An Điềm, Rue Gia Phú, Rue Gò Công (đường từ Chợ Lớn đi Gò Công), Rue Ký Hòa (gọi sai của Chí Hòa), Rue Phú Định, Rue Phú Giáo, Rue Phú Hữu, Rue Tân Hàng... Người Pháp lúc bấy giờ còn lấy số đặt tên cho một số con đường ở Chợ Lớn: đường số 6 (Bạch Vân), đường số 7 (Bùi Hữu Nghĩa), đường số 6 bis (Chiêu Anh Các), đường số 10 (Đào Tấn), đường số 4 (Phan Văn Trị)....


Tham khảo:

- Đường phố nội thành TP. Hồ Chí Minh, Nguyễn Đình Tư, Chi Cục Bản Đồ và Khảo Sát Xây Dựng & NXB TP> Hồ Chí Minh - 1994.

- Đường phố TP. Hồ Chí Minh, NXB Văn Hóa Thông Tin - 2001.

- Từ điển TP. Sài Gòn - Hồ Chí Minh, Nhiều tác giả, NXB Trẻ - 2001.

- Sài Gòn Chợ Lớn qua những tư liệu quý trước 1945, Nguyễn Đức Hiệp, NXB Văn Hóa Văn Nghệ - 2016.

Thứ Bảy, 28 tháng 1, 2017

Tết Nguyên Đán.



Ảnh Internet. Mai và đào ngày Tết.

Ta quen gọi ngày Tết theo âm lịch là Tết Nguyên Đán (Tiết Nguyên Đán), chữ Tết là gọi chệch từ chữ Tiết. Gọi theo Hán - Việt là Nguyên Đán Tiết 元旦節, như Trung Thu Tiết 中秋節 (Tết Trung Thu), Thanh Minh Tiết 清明節 (Tết Thanh Minh).

Trong Nguyên Đán Tiết 元旦節 chữ Nguyên 元 có nghĩa là bắt đầu, thứ nhất, Đán 旦 có nghĩa là sớm, buổi sáng, cũng có nghĩa là ngày, như Nguyên Nhật 元日 là ngày bắt đầu, ngày thứ nhất. Tiết 節 có nghĩa là tiết trời, một khoảng thời gian, ngày lễ, tết. Nguyên Đán Tiết 元旦節 là thời gian của buổi sáng, là ngày đầu tiên của một năm mới, với người Á đông, đây là ngày quan trọng nhất trong năm.

Cho nên xưa nay, Tết Nguyên Đán là tết lớn nhất, tết quan trọng nhất trong năm. Người ta hay nói "Vạn sự khởi đầu nan", "Đầu có xuôi thì đuôi mới lọt"... Xưa trong xã hội nông nghiệp, dịp Tết Nguyên Đán là dịp nông nhàn, trong nhà lại rủng rỉnh lúa gạo, tiền bạc, sẵn tiết trời mát mẻ người xưa vui chơi ăn tết đến cả tháng trời, "Tháng giêng là tháng ăn chơi", hôi hè đình đám kéo dài cho bõ những ngày vất vả ruộng vườn.

Mới đây đọc trên mạng, đó đây người ta bàn về việc gộp Tết Nguyên Đán vào Tết Tây, có người khác muốn gộp Tết Nguyên Đán vào ngày Giỗ Tổ Hùng Vương, số đông thì vẫn muôn giữ những ngày tết như cũ. Dĩ nhiên "chín người mười ý", ai cũng có những lý do cho những ý tưởng của mình, điều này hết sức bình thường. Nhưng đôi khi tôi thấy có những người để bảo vệ cho suy nghĩ của mình, đã dùng những lời lẽ, ngôn từ "đáng kinh ngạc" ném vào người khác, thật đáng sợ.

Riêng tôi vẫn thích những ngày Tết Nguyên Đán, nhưng đừng kéo dài "ăn chơi" quá, dăm ngày thôi, vừa phải, là lúc có người nơi xa về gặp lại người thân, anh em tụ họp nhau lại tưởng nhớ đến những người thân đã khuất, bạn bè gặp nhau nói dăm ba câu chuyện bên ly rượu hay chén trà (nhưng đừng "một, hai, ba dzô dzô tới bến không say không về"), có người khác tận dụng mấy ngày nghỉ quảy ba lô lên vai lên đường du lịch. Cũng là dịp chấm dứt một năm cũ để ta ngồi lại "tính sổ đời mình", bắt đầu một năm mới...

Nguyên Đán, ngày đầu của một năm, thân chúc Anh em, Bạn bè xa gấn một năm mới SỨC KHỎE - NHƯ Ý - AN KHANG - THỊNH VƯỢNG.

Thứ Ba, 24 tháng 1, 2017

"Đường Mọi".


Ảnh Internet, người Stiêng ngày xưa, hiện nay họ còn sinh sống khá nhiều ở tỉnh Bình Phước.

Đó là tên một con đường ở Sài Gòn thời Pháp, "Đường Mọi" là gọi nôm na theo tiếng Việt, còn tên gọi thời đó theo tiếng Pháp là "Rue des Mois", một cái tên khá ấn tượng. Theo sách vở con đường này đã có từ rất lâu đời, từ khi người Pháp xây dựng thành phố Sài Gòn vào những năm 1860. Lịch sử của "Đường Mọi" được ghi nhận như sau:

- Thời Pháp thuộc đầu tiên được đặt là "Rue des Mois", sau đổi thành "Rue Richaud", đến năm 1955 chính quyền Sài Gòn đổi thành đường Phan Đình Phùng. Ngày 14-8-1975 chính phủ Cách mạng lâm thời đổi thành đường Nguyễn Đình Chiểu đến nay. Đường này một phần nằm trên quận 1, phần lớn còn lại thuộc quận 3.

Tên "Rue des Mois" (Đường Mọi), cũng như tên của nhiều con đường khác thời Pháp, như đường Catinat (Thống chế của nước Pháp), đường Paul Doumer (Toàn quyền Đông Dương)... và sở dĩ có tên Đường Mọi vì khu vực này có nhiều thổ dân cư ngụ.

Trong tiếng Mường thì từ "Mọi" có 2 nghĩa, nghĩa thứ nhất là "người Mường" (nói riêng), nghĩa thứ nhì là "người" (nói chung). Theo sách vở, trong đao quân của Nguyễn Tri Phương giữ đại đồn Kỳ Hòa (Chí Hòa) có nhiều người "Mọi" thổ dân được dùng để xung kích, họ la ó và khá dữ tợn để áp đảo tinh thần quân Pháp. Xa hơn chút nữa vào thời anh em nhà Tây Sơn khởi nghĩa, trong đội quân của họ cũng đã ghi nhận có cả một đạo quân người Mọi, và cũng có những người Mọi biết huấn luyện voi được thu dụng để huấn luyện, điều khiển những con voi trận.

Như vậy xem ra từ "Mọi" có nguồn gốc từ tiếng Mường dùng để chĩ "người Mường", hoặc nói chung là để chỉ "người", rồi được dùng để gọi những dân tộc ít người, chứ không có nghĩa xấu hay kỳ thị.

Thứ Năm, 12 tháng 1, 2017

Tên gọi đạo Thiên Chúa (Thiên Chúa giáo) có từ đâu?

Tôi mua được mấy quyển sách có tựa đề "LỊCH SỬ GIÁO HỘI VIỆT NAM" của Linh mục Augustino Nguyễn Văn Trinh, đây là sách được ấn hành bởi Đại Chủng Viện Thánh Giuse - Sài Gòn. Sách có viết về cách giải thích nguồn gốc của từ "Đạo Thiên Chúa" (Thiên Chúa giáo), như sau: (Tập I, trang 175, 176)

"Trong Khâm Định* quyển 41 trang 24b nói về Y Ni Khu** vượt biển đến miền Nam Chân "âm hành truyền giáo vị chi Thiên Chúa đạo". Bản văn chánh thức của nhà nước cũng còn gọi đạo Gia Tô là đạo Thiên Chúa. Chữ Thiên Chúa*** xuất phát từ lúc nào? Được sử dụng vào lúc nào? Nam kỳ địa phận (NKĐP) có trích dịch bài của đức khâm sứ tòa thánh Yongpingfou giám mục F. Geurts viết trong Bulletin Catholique de Pékin (Juin 1928): "Dầu vậy cũng có tích này: thuở cha Ricci qua giảng đạo bên Trung Huê, tại Tchao - tsing lối năm 1583, người có treo trên bàn thờ trong nhà nguyện mình một bức ảnh, vẽ hình Đức Chúa Giêsu Kirixitô dưới có đề hai chữ Thiên Chúa; sử ký nói đó là mới thấy tiếng Thiên Chúa lần thứ nhất". Nếu quả thật cha Ricci đã thu đặng tiếng này, thì sự đó cũng đủ làm cho người nổi danh.

Từ ấy về sau bên Tàu mới gọi đạo thánh Chúa là Thiên Chúa giáo. Kể từ lúc cha Ricci cùng các bạn người bắt đầu dùng tiếng Thiên Chúa và cách nói Thiên Chúa giáo mà giảng đạo thì hai tiếng này hằng đặng trọng dụng luôn chẳng dứt, dầu lúc ấy đạo Thánh Chúa phải trải qua nhiều nỗi gian truân cùng vì việc lễ phép nước Ngô. (sự cúng tế ông Khổng phu tử và ông bà ông vải). Đến đời vua Wanli cai trị năm thứ 44 (1617) có quan Tá nhị Bộ lễ tại Nam Kinh làm sớ tâu vua mà nghịch Thiên Chúa giáo. Qua năm 1645 tại Phước Kiến, trước cửa nhà thờ đạo Thiên Chúa kia, thấy dựng một cột đá có thích mấy chữ: Sắc kiến Thiên Chúa đường, ấy tưởng là lần đầu hết mới thấy như vậy. Cách ít năm sau hoàng đế Kang - hi ra sắc cho phép rộng đạo trong sắc ấy người dùng tiếng Thiên Chúa giáo làm như tên riêng của đạo thánh, và từ năm 1703 chính hoàng đế ấy dạy khắc trên mặt tiền nhà thờ tại Bắc Kinh, mấy chữ quý hóa: "Sắc kiến Thiên Chúa giáo" nầy. Qua năm 1715 đức giáo hoàng Clémente XI nương theo thói các nhà truyền giáo cùng các bổn đạo quen dùng bấy lâu (longo et probate usu) trong sắc chữ đầu là "Ex illa die", đã nhất định trong chữ nho chỉ có tiếng Thiên Chúa là xứng hợp mà chỉ Thánh danh Đức Chúa Trời, Nhờ đó mà tiếng Thiên Chúa giáo cũng nên quý trọng" (NKĐP, 1934 trang 658)".



Ghi chú: (Theo "LỊCH SỬ GIÁO HỘI VIỆT NAM)

* Khâm Định Việt sử: Khâm Định là bộ chính sử ghi chép theo lệnh của nhà vua (ở đây là vua Tự Đức), do Quốc sử quán thực hiện, gồm 53 quyển, mỗi quyển có trên dưới 80 trang, cả bộ có hơn kém 4240 trang.

** Y Ni Khu: Cũng viết là I nê khu, I nê xu, I na xu... là phiên âm của chữ Ignatio, Ignace, Ignatius của Âu Châu. Có thể là một tên phổ thông chứ không phải là tên riêng, để gọi các tu sĩ dòng Tên (Jésuites).

*** Thiên Chúa: chữ Hán - Việt đọc là Thiên Chủ, dùng để dịch chữ Deus của Thánh kinh.

Thứ Tư, 21 tháng 12, 2016

Yêu - Dấu.


Người ta hay nói "yêu", nghĩa là gì ta đã quá rõ, cũng có khi nói "yêu dấu", với nghĩa như "yêu", có người nói vui "yêu là phải dấu" thôi, chứ yêu đâu có bô lô ba la cho bàn dân thiên hạ biết được.

Bạn nói chuyện, tục ngữ "Con vua vua dấu, con chúa chúa yêu", đọc thì ta có thể suy đoán và hiểu "dấu" và "yêu" là hai từ có ý nghĩa tương đương, hiểu nôm na là "thương mến", ngày xưa tục ngữ dùng hai từ độc lập, nhưng bây giờ ta có thể thấy từ "yêu" vẫn còn được viết hay nói một mình, chứ từ "dấu" thi không ai dùng một mình như trong tục ngữ nữa, chẳng hạn người ta nói "Anh yêu em", chứ chẳng nói "Anh dấu em", nói thế vợ hay người yêu sẽ bắt bẻ ngay "Này này, anh dấu cái gì? Khai ra mau".

Về nhà lật sách thì thấy đúng là như vậy, "dấu" là một từ cổ để chỉ sự thương yêu, đã được giám mục Alexandre de Rhodes ghi nhận trong tự điển Việt-Bồ-La của ông từ năm 1651 (Bản dịch của nhóm Thanh Lãng, NXB Khoa Học Xã Hội-1991):

- DẤU: Mơn trớn, âu yếm, dấu. Yêu dấu con: thương yêu và mơn trớn con. Thuốc dấu: bùa để làm cho yêu.

Thỉnh thoảng có dịp lật lại sách vở để hiểu rõ hơn về một từ ta vẫn quen dùng.

Thứ Hai, 5 tháng 12, 2016

Hầu đồng (tiếp theo).

Ảnh Internet.

Nhân việc UNESCO vinh danh "Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ" của Việt Nam, trong entry trước tôi có viết sơ qua vài nét về hầu đồng, còn được gọi là lên đồng, hầu bóng, đồng bóng... Anh bạn Giao Blog ghé xem có đề nghị "nhờ bác Hiệp viết cho một ghi chép thực tế của bác về "hầu đồng" ở trong Nam. Ví dụ: thời nhỏ bác Hiệp có nghe và thấy hầu đồng bao giờ không, rồi đến khi được thấy bác có cảm nhận gì, vân vân".

Ý kiến của anh bạn Giao Blog vừa dễ lại vừa... khó. Dễ bởi vì trước năm 1975 ngay từ lúc còn nhỏ ở Sài Gòn, nhà ở gần một "điện thờ" (của tư nhân) thỉnh thoảng có tổ chức lên đồng và tôi đã được xem, lớn lên khoảng mười chín, hai mươi lúc ấy ở trong quân đội thường xuyên di chuyển đây đó, khi đóng tại Quy Nhơn cũng gần nơi một con phố có mấy nhà theo Đạo Mẫu, họ cũng hay tổ chức hầu đồng và thỉnh thoảng tôi cũng ghé xem.

Theo tôi được biết, trước năm 1975 việc hầu đồng ở miền Nam không bị cấm đoán, nhưng cũng không phổ biến, có lẽ lúc ấy tình hình chính trị nhiều khi lộn xộn (khoảng hơn nửa đầu thập niên 1960), rồi sau đó chiến sự gia tăng, ít người chú ý tới việc hầu đồng, hình như hồi đó tôi không thấy có sách viết về việc hầu đồng như bây giờ.

Tuy nhiên cũng xin theo ý anh bạn Giao Blog ráng nhớ lại những ký ức về việc tôi đã đi xem hầu đồng kể lại vài dòng dưới đây:

Như đã nói, thuở tôi còn nhỏ, đâu khoảng cuối thập niên 1950 lúc ấy tôi mới đi học tiểu học ở Sài Gòn (cấp 1 bây giờ), nhà ở gần một điện thờ của một gia đình người miền Bắc di cư theo Đạo Mẫu, thỉnh thoảng họ có tổ chức hầu đồng lúc ấy được nghe gọi là lên đồng. Một vài lần được người lớn trong nhà dẫn đi xem, người xem vì hiếu kỳ hoặc trẻ con đến xem thường đứng ngoài cửa chứ không được vào bên trong chỗ làm lễ. Phải nói lúc ấy còn nhỏ quá chẳng hiểu gì cả, chỉ thấy sợ cái không khí âm u, đèn nến mờ tỏ, khói nhang nghi ngút, cùng với quần áo sặc sỡ của người lên đồng, những động tác như múa kiếm, chèo thuyền, cầm nhang đèn cháy ngùn ngụt nhảy múa mà không hề hấn gì. Thêm vào đó là tiếng đàn, tiếng hát, lúc ấy không hiểu hát gì, và những người tham gia hầu đồng ngồi phía dưới chắp tay chăm chú vái lạy. Có một điều duy nhất không phải chỉ có tôi, mà đám con nít tới coi rất thích, là khi buổi lên đồng chấm dứt họ phát cho lũ trẻ những cái kẹo, oản... được bọc trong giấy bóng kính xanh đỏ gọi là lộc thánh ban. Điều đặc biệt của điện thờ là màu sơn của ngôi nhà, họ sơn màu vàng, màu đỏ rất chói, trong nhà lúc nào cũng thắp đèn đỏ mờ mờ, chủ nhân của điện thờ này là một bà đã có chồng con, lúc nào cũng mặc những bộ quần áo bằng sa tanh màu đọt chuối, đỏ, vàng... rất tươi, dáng điệu và thân hình của bà ấy trông hơi thô giống đàn ông, nhưng lúc lên đồng múa rất dẻo.

Khi tôi lớn hơn chút nữa, lúc đã học trung học, có nghe ở Sài Gòn có những nơi lên đồng như thế, ở những đền, miếu, đình... và một số điện thờ của tư nhân, nhưng lúc ấy tôi cũng không chú ý gì tới việc lên đồng. Bẵng đi một thời gian, cho tới khi tôi vào quân đội. Khoảng thời gian năm 1972 lúc ấy tôi đóng ở Quy Nhơn, gần một con phố (tôi nhớ là đường Tăng Bạt Hổ không biết có nhớ đúng không?), con đường này có vài nhà theo Đạo Mẫu nên hay tổ chức lên đồng. Thỉnh thoảng tôi cũng ghé xem, khung cảnh của những ngôi nhà này cũng tựa như điện thờ ngôi nhà khi tôi còn nhỏ, có điều không âm u bằng. Vài lần tôi ghé xem luôn được người trong nhà mời vào ngồi ghế đàng hoàng, lúc này tôi đã hiểu biết sơ qua chuyện lên đồng nên chú ý xem hơn, mới biết những ông Hoàng Mười, cô Bơ, cô Chín, bà Ngũ Hành, Thủy Long công chúa... đang nhập vào những bà đồng. Ngồi sát cạnh những đệ tử phía dưới tôi thấy họ rất thành kính, họ hay nói lạy thánh, lạy cô, lạy cậu... và cũng xì xụp vái lạy. Cuối một giá đồng thánh ban phát lộc cho những đệ tử ngồi phía dưới, thường là tung bánh kẹo có cả tiền. Cũng có người đưa cho tôi lộc thánh như thế. Trong khung cảnh mờ mờ, mùi khói nhang, tiếng nhạc của giàn chầu văn cùng tiếng hát của cung văn hòa với điệu múa của cô đồng, và những nét mặt thành kính của những đệ tử (hồi đó đa số là quý bà quý cô) ngồi phía dưới tạo nên những cảm xúc khó tả cho cả người xem.

Sau năm 1975 thì ở Sài Gòn và có lẽ cả miền Nam vắng bóng chuyện lên đồng. Tuy nhiên về sau này từ thời mở cửa nghe nói có một số đền, miếu đã tổ chức hầu đồng trở lại...