Chủ Nhật, ngày 21 tháng 8 năm 2016

Chữ Quốc ngữ.

Chị G. Mai, một người bạn quen biết lâu nay nói "Hôm nào bác Phạm Ngọc Hiệp gom chữ viết thời Alexandre de Rhodes ra viết một bài đi. Tôi có nói với chị G. Mai chữ viết thời đó viết vài quyển sách cũng không đủ. Nhưng cũng xin viết một cái gì đó về chữ Quốc ngữ thời xưa đó theo ý của chị G. Mai.

Chắc chị G. Mai còn nhớ bài học thuộc lòng từ thuở nhỏ:

Chữ Quốc ngữ
chữ nước ta
con cái nhà
đều phải học
miệng thì đọc
tai thì nghe
đừng ngủ nhè
chớ láu táu

Chữ Quốc ngữ là chữ cách nay mấy trăm năm do các giáo sỹ Tây phương làm ra để truyền đạo, mà công đầu thuộc về giáo sỹ Dòng Tên Alexandre de Rhodes (1591-1660), viết theo chữ Quốc ngữ là A Lịch Sơn Đắc Lộ, ông có công soạn ra quyển tự điển ta hay gọi là Tự điển Việt-Bồ-La in năm 1651 tại Roma, bây giờ vẫn còn lưu lại. Trải qua mấy trăm năm, chữ Quốc ngữ ta dùng ngày nay đã rất hoàn chỉnh (dĩ nhiên tôi muốn dùng chữ "rất" một cách tương đối).

Như ta đã biết, thoạt đầu chữ Quốc ngữ được các giáo sỹ Tây phương sáng tạo ra với mục đích truyền đạo Công giáo ở nước ta, cho nên những dấu tích của chữ Quốc ngữ thời sơ khai còn tìm thấy nơi những tài liệu của các giáo sỹ thời ấy:

"... ếy cệy mà bây nhêu sự nây ở tlão đức chúa blời, là chúa cả làm nên blời, đết, cũ mọi sự..." (ấy vậy mà bấy nhiêu sự này ở trong đức chúa trời, là chúa cả làm nên trời, đất, cùng mọi sự...).

Phép giàng ngày thứ hai trpng Phép giảng tám ngày của giáo sỹ Đắc Lộ in năm 1651 tại Roma.

"Tau rữa mầi nhân danh Cha, ùa Con, ùa Spirito santo. Tau lạy tên Chúa, tốt tên, tốt danh, tốt tiếng. Vô danh cắt ma, cắt xác, Blai có ba hồn bãy uía, Chúa blay ba ngôy nhân danh...". (Tao rửa mày nhân danh Cha, và Con, và Spirito santo (và Thánh thần). Tao lạy tên Chúa, tốt tên, tốt danh, tốt tiếng. Vô danh, cắt ma, cắt xác. Bay có ba hồn bảy vía. Chúa bay ba ngôi nhân danh...).

Thư của giáo sỹ Dòng Tên Marini viết năm 1645 tại Áo Môn.

"Lạy ơn Đ.C.B.phù hộ Thài bàng an linh hồn và xác. Từ nam Thài thái vè nhỏy, thì hay Thài ở lạy chịu nhèu sự khó lám, thì ràng chẳng có tlở vè são le cữ như vè 6ài". (Lạy ơn Đức Chúa Trời phù hộ Thày, bằng an linh hồn và xác. Từ năm Thày trẩy về khỏi, thì hai Thày ở lại chịu nhiều sự khổ lắm, thì rằng chẳng có trở về song le cũng như về vậy).

Thư của Isesico Văn Tín viết gởi cho Marini ở Roma vào ngày 12-9-1659.

"Nước Ngô thước hết mớy có Bua trị là Phục Hi. Bua thứ hai là Thần nôõ con cháu Bua Than nôõ sang trị nước Annam, liền sinh ra Bua Kinh dương Bương, thước hết  lãi 6ợ là nàng Thần Lão, liền sinh ra Bua Lạc Lão cuân. Lạc Lão cuân trị vì lãi 6ợ tên là Âu Cơ có thai đẻ ra một bao có một trăm trứng nở ra được một trăm con blay". (Nước Ngô trước hết mới có vua trị là Phục Hi. Vua thứ hai là Thần Nông. Con cháu vua Thần Nông sang trị nước Annam, liền sinh ra vua Kinh Dương Vương. Trước hết lấy vợ là nàng Thần Long, liền sinh ra vua Lạc Long Quân trị vì, lấy vợ tên là Âu Cơ, có thai đẻ ra một bao có một trăm trứng, nở ra được một trăm con trai).

Tập sử Việt của Ben Tô Thiện (1658).

Qua những thư, bài viết của các giáo sỹ Tây phương và Việt Nam kể trên, ta thấy chữ Quốc ngữ thời sơ khai cách nay mấy trăm năm, khoảng giữa thế kỷ thứ XVII tuy khá khó đọc với người ngày nay, nhưng đã hình thành các dấu để ghi âm tiếng Việt, thấy cũng tương đối, không khác về sau này bao nhiêu. Cũng nên lưu ý, thời gian này nước ta chỉ mới đến Thuận Hóa, cho nên chữ Quốc ngữ thời ấy mới chỉ ghi âm từ đó trở ra. Nhân đây xin giới thiệu một đoạn văn của một tác giả văn học miền Nam cách nay trên 60 năm, để ta có thể so sánh cách dùng chữ Quốc ngữ của từng thời và từng miền.

"Lửa hạ vừa tàng, gió thu đổ lá, kèn xe hơi rỉ rả, tiếng ngâm sầu nhặc nhặc khoan khoan. Nội cỏ bóng le the, trang vẻ cảnh vàng vàng dợt dợt, kìa xóng róng một đám rừng thông cụm liễu cây đứng xơ rơ, trợn mắt trơ trơ, dường như giận cái phong cảnh tiêu điều mà phai màu xũ lá. Nọ một giãi trường-san vọi vọi nằm dọc theo mé biển Đông-dương, dơ sống phơi sường, thiêm thiếp iêm liềm ở dưới trời Nam, dường như buồn thảm cái thời tiết đổi đời nên không động dạng". Đây là đoạn mở đầu của lịch sử tiểu thuyết GIỌT MÁU CHUNG TÌNH của tác giả Tân Vân Tử (ghi đúng phải là Tân Dân Tử) do nhà Phạm Văn Cường xuất bản lần thứ 8 năm 1954 tại Chợ Lớn.

Đoạn văn trên cho ta thấy rõ cách sử dụng từ ngữ, cách hành văn đặc trưng của một tác giả tiểu thuyết Nam bộ lúc bấy giờ, kể luôn cả cách viết sai chính tả. "kèn xe hơi rỉ rả", đúng ra phải là "kèn ve (con ve) hơi rỉ rả", có lẽ do in sai hoặc đúng là lỗi của tên đánh máy, còn viết sai chính tả thì lu bù.

Tham khảo:

- Tìm hiểu lịch sử chữ Quốc ngữ, Hoàng Xuân Việt (NXB Văn Hóa Thông Tin-2007).
- Những bước đầu của Báo chí, Truyện ngắn, Tiểu thuyết & Thơ mới, Bùi Đức Tịnh (NXB TP. HCM-2002).











--> Đọc tiếp..

Thứ Ba, ngày 16 tháng 8 năm 2016

Hình gì đây?

Ảnh Internet.

Đây là một tấm ảnh chụp từ ngày xưa đăng trên báo LIFE thời đó, ảnh khá ấn tượng, ngộ nghĩnh, chụp những người đàn ông ngồi vắt vẻo trên một hàng rào sắt, có vẻ như đang chăm chú theo dõi một cái gì đó phía trước mặt. Tuy ảnh chụp từ sau lưng, nhưng có lẽ ta dễ dàng nhận biết đây là những người bình dân, hoặc có dáng vẻ nông dân, trên đầu họ đội chiếc nón cối thực dân, hay những chiếc mũ nỉ có vành quen thuộc một thời, và điều khá đặc biệt là đầu họ mũ đàng hoàng nhưng chân đi đất chứ không mang giày dép chi cả.

Nhưng các bạn có biết họ đang ngồi theo dõi điều gì xảy ra trước mặt không? Chắc khó lòng có thể đoán được, nếu ta không tận mắt nhìn thấy cảnh này. Đây là một hình ảnh ít ra cũng phải có trên nửa thế kỷ nay ở Sài Gòn, hình ảnh này vẫn còn trong trí nhớ của tôi tuy đã rất lâu rồi. Nhìn hình thì tôi sực nhớ ngay ra nơi chụp, nơi mà thuở còn nhỏ gia đình tôi đã ở một thời gian dài tại khu vực này, và quãng thời gian đó cũng là một phần tuổi thơ của tôi.

Xin nói ngay, ảnh trên là chụp những người đàn ông đang xem đua ngựa tại Trường đua Phú Thọ ở Sài Gòn một dạo. Bạn nào ở Sài Gòn lâu năm chắc biết Trường đua ngựa Phú Thọ (sẽ gọi tắt là Trường đua), đây là trường đua ngựa do người Pháp thành lập từ năm 1932 tại khu vực Chợ Lớn (nay thuộc quận 11). Nơi đây tổ chức những cuộc đua ngựa có cá cược ăn tiền, thời tôi còn nhỏ hình như là một tuần tổ chức đua một hoặc hai lần gì đó, vào thứ bảy, chủ nhật cuối tuần. Ngay từ khi vào Nam, ông cụ bà cụ tôi đã ở con đường trước mặt cổng chính của Trường đua (bây giờ là đường Lê Đại Hành). Vì ở ngay trước mặt Trường đua, nên hồi còn nhỏ tôi hay cùng đám nhóc tì trong xóm vào xem đua ngựa, Trường đua ngựa rộng mênh mông, trong đó có đồng cỏ, ao hồ... cho nên tụi nhóc tì tha hồ chạy nhảy, thả diều, bắt dế, chuồn chuồn, châu chấu, câu cá, và cả đá bóng...

Hồi đó có hai khán đài và hai cổng vào chia thành hai khu vực kế nhau dành cho những người xem đua ngựa. Khu vực khán đài và cổng vào dành cho Tây, giới trưởng giả có tiền của gọi là "Cổng nhà giàu", khu vực khán đài và cổng vào dành cho giới bình dân gọi là "Cổng nhà nghèo". Bên khu vực khán đài dành cho giới bình dân luôn có những người không thích ngồi  trên khán đài phía xa theo dõi cuộc đua, mà leo lên dãy hàng rào sắt gần sát đường ngựa chạy để nhìn cho rõ, như các bạn đã thấy trên ảnh.

Đua ngựa thời đó chủ yếu là cá cược ăn tiền, cho nên rất hấp dẫn đám thích máu me ở Sài Gòn và những vùng lân cận, cả giới nhà giàu lẫn giới nhà nghèo, từ anh có tiền của, bá hộ nhà quê, đám dân nghèo thành thị đến anh nông dân. Cứ mỗi buổi đua ngựa là người ta lại đổ về nườm nượp. Mỗi cuộc đua có chừng chục con ngựa chạy có đeo số, lúc tôi còn nhỏ thì người ta gọi những con ngựa bằng tên của những nhân vật trong truyện Tàu, chẳng hạn ngựa Triệu Tử Long, ngựa Lý Quỳ, ngựa Phàn Lê Huê... Về sau này lại lấy tên của những nghệ sỹ cải lương, tân nhạc thời đó mà đặt, như ngựa Út Trà Ôn, ngựa Thành Được, ngựa Mai Lệ Huyền...

Ở đó bao nhiêu năm tôi cũng chẳng hiểu rõ cách đánh cá cược ra sao? Hình như trước mỗi lần đua người ta bán vé dự đoán những con ngựa về nhất về nhì, cặp đôi cặp ba (cặp đôi là ngựa về nhất nhì, cặp ba là ngựa về nhất nhì ba).Khi trúng thì tùy theo số tiền đã đặt cược và số vé trúng mà chia thưởng. Thường những con ngựa hay, chạy giỏi hay về nhất, nhì, nhiều người đánh thì khi chia tiền được ít, nhưng ít ra đánh một đồng khi trúng cũng được năm mười đồng.  Nghe nói có những kỳ "ngựa về ngược", nghĩa là những con ngựa xưa nay chạy dở ẹc chuyên "cầm đèn đỏ" (về chót), tự nhiên hôm đó về nhất, những trường hợp này vì có ít người cá cược cho nên số tiền trúng thưởng rất lớn, nghe nói có những người trúng bằng cả một gia tài, nhưng cũng không ít kẻ máu me cá cược đến tán gia bại sản...










--> Đọc tiếp..

Thứ Ba, ngày 09 tháng 8 năm 2016

Vườn Tao Đàn.

Lão Đạo sỹ.



Hôm nọ ông bạn Đặng Hồng Kỳ (lúc còn chơi ở Yahoo 360 là Hồng Đăng) gởi cho tấm hình chụp đã lâu khi còn "đương xoan" (ấy là nói tôi, chứ ông bạn Đặng Hồng Kỳ vẫn còn xoan lắm), cái thời còn sáng cắp ô đi tối cắp ô về. Trong tuần sớm mai rảnh rỗi anh em hẹn nhau ngồi làm một ly đen nóng, mà ông bạn Hồng Kỳ nói đúng chuẩn cafe ở cafe Chim Tao Đàn, ngắm chim chóc trước khi bắt tay vào một ngày làm việc.

Trên ảnh là một lão niên râu tóc, lông mày bạc phơ ra dáng một Đạo sỹ thong dong giữa dòng đời, đặc biệt trên vai còn quảy theo một chú sóc. Tấm ảnh này tôi chụp bằng điện thoại di động của anh Kỳ. Tôi không nhớ thời gian chụp tấm ảnh, anh Kỳ nhắc đã gần chục năm rồi. Gần mười năm? Ô hay thời gian qua nhanh quá, không biết bây giờ lão niên Đạo sỹ đã phiêu bạt nơi đâu?

Nhân đây tôi muốn lan man đôi chút về nơi chốn anh em đã ngồi cafe một thời...

Vườn Tao Đàn là tên gọi quen thuộc của người dân TP. Hồ Chí Minh (TP. HCM), hình như tên gọi bây giờ là "Công viên Văn hóa TP. HCM". Tôi sẽ sử dụng tên gọi vườn Tao Đàn cho ngắn gọn. Vườn Tao Đàn là một khu vườn với nhiều cây xanh, vườn hoa, không khí luôn mát mẻ nằm giữa trung tâm thành phố, phải nói rất may mắn người Pháp xưa kia đã quy hoạch và lập ra vườn hoa này, cùng với Thảo Cầm Viên Sài Gòn mà người dân quen gọi là Sở Thú. Có lẽ đây chính là hai lá phổi xanh của Sài Gòn xưa nay.

Về lịch sử thì vườn Tao Đàn là một công viên thuộc hàng lâu đời nhất tại Sài Gòn được người Pháp thành lập từ năm 1869, khi làm con đường mang tên Miss Cauwel tách khỏi Dinh Toàn Quyền (nay là đường Huyền Trân Công Chúa, từ năm 1963 đến năm 1975 đường này bị cấm lưu thông vì an ninh của dinh Độc Lập). Thoạt đầu người Pháp gọi là "Jardin de la ville", nhưng trong dân gian quen gọi là "Vườn Ông Thượng", Thượng là Thượng Công Lê Văn Duyệt, vì xưa kia gần nơi đây có dinh Tả Quân và hoa viên của ngài. Phía đường CMT 8 bây giờ trước năm 1975 được đặt tên là đường Lê Văn Duyệt. Nhà văn Sơn Nam thì cho rằng tên "Ông Thượng" trong Vườn Ông Thượng để chỉ toàn quyền Pháp Maurice Long, có lẽ bởi người Pháp còn gọi vườn hoa là "Jardin Maurice Long", nhưng cụ Vương Hồng Sển cho biết tên Vườn Ông Thượng đã có từ thời trước khi Maurice Long sang Việt Nam.

Ngoài tên gọi Vườn Ông Thượng, dân gian cũng quen gọi là "Vườn Bờ Rô", tên gọi này chưa thống nhất cách giải thích, Theo cụ Vương trong Sài Gòn Năm Xưa, thì có người cắt nghĩa chỗ này xưa có làm một cái  "préau" (sân chơi trường học hay tu viện), hoặc "bureau" (văn phòng) nên dân ta dựa theo đó chế ra danh từ "Bờ Rô" mà gọi. Cũng sách cụ Vương viết theo tài liệu của ông giáo Trần Văn Xường do ông Lê Ngọc Trụ thuật lại thì Bờ Rô có thể do "Moreau" là tên của người quản thủ Pháp đầu tiên được cắt trong nom khu vườn này.

Còn tên Vườn Tao Đàn thì có từ sau năm 1950, dưới thời "hỗn mang" của miền Nam, mấy năm qua nhiều đời chính phủ (Thủ hiến Nam phần Trần Văn Hữu - 1950. Chính phủ Nguyễn Văn Tâm - Tháng 6-1952. Chính phủ Bửu Lộc - Tháng 1-1954. Và Chính quyền Ngô Đình Diệm - Tháng 7-1954 trở về sau). Tên gọi Tao Đàn được lấy từ Tao Đàn Nhị Thập Bát Tú, hay Hội Tao Đàn của vua Lê Thánh Tông (Hội thành lập từ năm 1495, gồm hai mươi tám vị vua, quan, nho sĩ hay chữ).

Sau năm 1975 vườn Tao Đàn được đổi thành "Công viên Văn hóa TP. HCM" cho đến nay.

Cũng thời gian xây dựng "Jardin de la Ville", xin ghi thêm một vài công trình tiêu biểu đánh dấu sự hiện diện của người Pháp và lịch sử của Sài Gòn: 13-1-1863 khánh thành Nhà Bưu Chính Sài Gòn. Tháng 3-1864 khởi công xây dựng Thảo Cầm Viên với diện tích 20 hecta, khánh thành năm 1865, do nhà thực vật học nổi tiếng người Pháp  là J.B. Louis Pierre sáng lập và làm giám đốc tiên khởi.

Từ năm 1861 bắt đầu xây dựng những đường phố chính ở Sài Gòn, năm 1865 bắt đầu đặt tên đường, như Bonard (Lê Lợi), Charner (Nguyễn Huệ), Catinat (Tự Do - Đồng Khởi)...

Tôi tuy sinh ra tại miền Bắc, nhưng ở Sài Gòn từ lúc còn chập chững biết đi nay tạm gọi là già. Thuở còn học trung học Đệ nhất cấp ở một trường trung học nơi quận một do các vị linh mục quản lý, đi học buổi chiều, trong tuần có một buổi chiều thứ năm dành ra 2 tiếng học giáo lý. Tôi thường không học theo mấy đứa bạn ra vườn Tao Đàn bắt chuồn chuồn chuồn, cào cào chơi, hoặc vào "Sân banh vườn Ông Thượng" xem đá bóng, lúc đó vẫn còn đội bóng Ngôi Sao Gia Định lừng danh một thời.

Ngày xưa vào mùa hè mà đi ngang qua khu vực vườn Tao Đàn và dinh Độc Lập tha hồ nghe ve kêu inh ỏi, điếc cả tai, bây giờ thì tiếng ve đã hiếm rồi.

Một thời đáng nhớ nữa của tôi với vườn Tao Đàn là khoảng thời gian gần chục năm trước như anh Kỳ đã nhắc bên trên, một hai ngày buổi sáng sớm trong tuần trước khi đến nơi làm việc (gọi đùa là "giao ban" cho oai), anh em thường hẹn nhau ra một quán cafe trong vườn Tao Đàn phía bên đường CMT 8 (cũng có hôm thêm vài bạn khác như cô Bơ May N...), ngồi nhâm nhi ly cafe tán dóc chuyện trên trời dưới biển, ăn gói xôi bắp hay ổ bánh mì ốp la, nhìn thiên hạ qua lại, và ngắm những con chim hót trong lồng.

Thời gian trôi qua, như gió thoảng...




--> Đọc tiếp..

Thứ Sáu, ngày 29 tháng 7 năm 2016

Mới - Cũ & Lớn - Nhỏ.

Chợ Bến Thành (Chợ Mới). Ảnh Internet.

Chợ Lớn (cũ) nay không còn, nằm ở vị trí Bưu điện quận 5 ngày nay. Ảnh Internet.

Chợ Bình Tây (Chợ Lớn Mới, Chợ Quách Đàm). Ảnh Internet.

Chợ Thiếc (Chợ Nhỏ) ngày nay. Ảnh Internet.

Đây là tên của những ngôi chợ ở Sài Gòn năm xưa:

- Chợ Mới và Chợ Cũ: Chợ Mới là một trong những tên gọi của chợ Bến Thành nổi tiếng ngày nay (cũng có tên gọi khác là chợ Sài Gòn), chợ Bến Thành ta thấy ngày nay được xây dựng trong 2 năm từ 1912 đến 1914, đến nay đã được trên 100 năm. Sở dĩ có tên gọi Chợ Mới là để thay thế cho ngôi chợ Bến Thành cũ với tên Chợ Cũ. Thời Pháp thuộc người Pháp cho xây dựng một ngôi chợ chính ở trung tâm Sài Gòn, vị trí nằm ngay bên rạch Bến Nghé nơi có bến sông, và gần thành Gia Định (còn gọi là thành Quy, hay thành Bát Quái, ngôi thành mà Lê Văn Khôi đã dùng để chống lại quân của triều đình suốt 3 năm, sau khi Lê Văn Khôi mất và thành bị chiếm thì triều đình san phẳng cho xây một ngôi thành mới gọi là thành Phụng với quy mô nhỏ hơn).

Khi xây ngôi chợ Mới (chợ Bến Thành ngày nay) thì chợ không còn ở gần bến và thành nữa, nhưng tên Bến Thành vẫn được gọi cho ngôi chợ Mới. Khi có chợ Mới thì khu vực chợ Bến Thành cũ được gọi là Chợ Cũ, tên gọi Chợ Cũ ta vẫn còn thấy dùng gọi khu vực này cho đến hiện nay (ở khu Chợ Cũ bạn nào sống lâu năm tại Sài Gòn chắc còn nhớ tiệm bánh Như Lan nổi danh một thời).

- Chợ Lớn và Chợ Nhỏ: Chợ Mới và Chợ Cũ ở khu vực trung tâm thành phố Sài Gòn, ngày nay là quận 1, thì Chợ Lớn và Chợ Nhỏ ở khu vực ngày xưa là trung tâm thành phố Chợ Lớn, người Hoa gọi là Đề Ngạn (). Thời Pháp thuộc, có thời kỳ người Pháp chia ra Thành phố Sài Gòn và Thành phố Chợ Lớn, sau mới sáp nhập làm một.

Đến đây cũng cần mở một cái ngoặc. Ban đầu danh xưng Sài Gòn là để chỉ khu vực Đề Ngạn nêu trên, nơi có nhiều người Hoa sinh sống, tức là khu trung tâm quận 5 (Bưu điện quận 5 ngày nay). Chỉ sau năm 1861, khi đã chiếm được thành Gia Định (thành Phụng), đặt nền móng cai trị, người Pháp mới quy định Sài Gòn bao gồm cả khu vực Bến Nghé (quận 1 ngày nay). Đến năm 1865 chính quyền bảo hộ lại ký nghị định quy định lại diện tích, qua đó Thành phố Sài Gòn (Ville de Saigon) chỉ còn lại khoảng 3 km vuông tại khu vực Bến Nghé, và Thành phố Chợ Lớn (Ville de Cholon) để gọi khu Đề Ngạn (Sài Gòn cũ). Sau năm 1956 dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa của TT Ngô Đình Diệm, tên gọi Sài Gòn được dùng chung cho cả hai khu vực.

Trở lại tên gọi Chợ Lớn, đây là một ngôi chợ của người Hoa có nguồn gốc xa xưa, khi họ không thần phục nhà Thanh đến xin chúa Nguyễn sinh sống, sau này thêm những người Hoa khác bỏ chạy từ Cù Lao Phố ở Biên Hòa, khi bị quân Tây Sơn truy đuổi. Ban đầu Chợ Lớn là ngôi chợ tọa lạc tại địa điểm bây giờ là Bưu Điện quận 5, quy mô của chợ lớn hơn hẳn một ngôi chợ khác của người Việt là chợ Tân Kiểng (Tân Cảnh, vùng Chợ Quán ngày nay), và một ngôi chợ khác được gọi là Chợ Nhỏ gần đấy. Ngôi Chợ Nhỏ này vẫn còn cho đến ngày nay, đó chính là Chợ Thiếc (Thiếc chứ không phải Thiết, xưa kia vùng này có nhiều rẫy trồng hoa màu, gần đó còn tên bệnh viện Chợ Rẫy. Chợ Thiếc và khu vực chung quanh chuyên sản xuất buôn bán đồ dùng bằng tôn thiếc các loại, như các thùng tưới rau). Hiện nay thuộc quận 11. Chợ Thiếc sau này còn có tên gọi là chợ Phó Cơ Điều, vì nằm trên đường Phó Cơ Điều, chuyên buôn bán vàng, nữ trang.

Năm 1928, một thương nhân người Hoa là Quách Đàm, chủ nhà buôn Thông Hiệp tự bỏ tiền mua đất xây dựng một ngôi chợ khác gần Chợ Lớn, ban đầu gọi là chợ Quách Đàm, chợ Thông Hiệp, nay là chợ Bình Tây thuộc quận 6. Chợ Quách Đàm với quy mô lớn hơn hẳn Chợ Lớn dần thay thế ngôi Chợ Lớn, người dân gọi là Chợ Lớn Mới, ngôi Chợ Lớn cũ bị phá bỏ. Chợ Lớn Mới (chợ Quách Đàm, chợ Thông Hiệp) sau này gọi là chợ Bình Tây còn tồn tại đến ngày nay, cũng như chợ Bến Thành, đây là hai ngôi chợ nổi tiếng của thành phố. Nổi tiếng về kiến trúc, lịch sử, du lịch...


(Tham khảo từ nhiều nguồn).



--> Đọc tiếp..

Chủ Nhật, ngày 24 tháng 7 năm 2016

Cuối tuần.

Quảng cáo của hãng hòm Tobia.

Quảng cáo Tuần báo.


Xà bông.

Vũ trường.

Bia 33.

Rạp chiếu phim.

Rạp chiếu phim di động.


Sáng sớm chủ nhật cuối tuần nhận được cái Email của một người bạn thuở còn đi học, hiện bạn đang sống ở nước ngoài. Bạn gởi cho những hình ảnh khá dễ thương của "một thời yêu dấu đã qua"*, với tựa đề MỘT CHÚT HOÀI NIỆM.

Những bạn nào đã ở Saigon trước năm 1975 có lẽ còn nhớ những hình ảnh quen thuộc này, chẳng hạn như quảng cáo của hãng hòm Tobia, quảng cáo của một tuần báo, xà bông, vũ trường, cafe Brodard, bia 33, rạp hát. Đặc biệt là hình ảnh của một "xe chiếu phim di động", chuyên phục vụ trẻ con, chiếu những đoạn phim hài ngắn của Charlot...

Tôi post lại dưới đây vài hình ảnh HOÀI NIỆM ấy:


* "một thời yêu dấu đã qua", lời trong bài hát Đóa hoa vô thường của nhạc sỹ TCS "Một thời yêu dấu đã qua/ Gót hồng em muốn quay về/ Dù trần gian có xót xa/ Cũng đành về với quê nhà".









--> Đọc tiếp..

Thứ Tư, ngày 20 tháng 7 năm 2016

Mắt ghe thuyền ở Nam bộ.

Ảnh Internet.

Về miền Tây Nam bộ vùng sông nước, có lẽ ai cũng ấn tượng với cảnh ghe thuyền trên sông rạch, những con thuyền đủ loại với những tên gọi, chức năng khác nhau. Đã lâu tôi không có dịp đi chơi lại vùng này, nhưng cái ấn tượng để lại trong tôi là sự hiền hòa, chất phác của người dân, của thiên nhiên, đặc biệt là những con mắt của ghe thuyền, những con mắt đã tạo nên sự sống động cho những chiếc ghe, thuyền đang ngược xuôi.

Tục lệ vẽ mắt trên ghe thuyền không chỉ có ở Nam bộ, mà ta thấy trên những con thuyền ở khắp mọi vùng đất nước, trên khắp thế giới, tuy mỗi nơi, mỗi địa phương có khác. Riêng ở Việt Nam tục lệ vẽ mắt cho ghe thuyền đã có từ rất lâu đời, ít nhất là từ thế kỷ thứ I trước Công nguyên, trên những trống, khạp (thạp) đồng đã tìm thấy ở nước ta.

Về tục lệ vẽ mắt trên ghe thuyền, theo một số nhà nghiên cứu có lẽ liên quan đến tục xăm mình của người Đông Sơn đã được nhắc đến trong nhiều sách vở, chẳng hạn sách Lĩnh Nam Chích Quái của các tác giả Vũ Quỳnh, Kiều Phú đã nói đến, vua Hùng đã truyền cho dân lấy mực vẽ lên người, để thủy quái không còn làm hại khi xuống nước.

Tuy mỗi nơi trên đất nước có một cách vẽ mắt cho ghe thuyền, ngay vùng đồng bằng Nam bộ mỗi địa phương lại có cách vẽ đôi chút khác biệt, nhưng nói chung mắt của ghe thuyền vùng sông nước Nam bộ (từ TP. HCM đến Cà Mau) có đặc điểm chung là tròng đen, tròng trắng tròn hoặc hơi ô van, nhìn thẳng, tròng đen to, trông hiền hòa, như tính cách của người dân vùng này.

Nếu đôi mắt người được mệnh danh là "cửa sổ của tâm hồn", thì đôi mắt ghe thuyền cũng thế, cho nên khi đóng một chiếc ghe, đến công đoạn vẽ mắt các trại thuyền phải làm lễ cúng khai nhỡn (khai nhãn), cùng với hai lễ cúng quan trọng khác là cúng khi bắt đầu đóng ghe gọi là cúng ghim lô, và cúng hạ thủy. Cúng khai nhỡn được thực hiện khi đã đóng xong phần vỏ ghe, với mong ước sau này ghe được an toàn, công việc làm ăn của chủ ghe được thuận lợi. Lễ vật cúng thường đơn giản, hoa trái, bộ tam sên (thường là con tôm, miếng thịt heo và quả trứng).

Người dân cũng có tục lệ chọn ngày lành để cúng khai nhỡn, và cũng có tục kiêng kỵ không cho người lạ sờ vào mắt ghe, vì sợ bị yểm, xui xẻo...


Tham khảo từ nhiều nguồn.




--> Đọc tiếp..

Thứ Năm, ngày 14 tháng 7 năm 2016

Chữ nghĩa ngày xưa.


Hôm trước đi trong xóm, tình cờ tôi nghe lại được mấy từ "ôn gwoàng dzịt lộn" mà mấy chục năm nay không còn nghe. Thuở nhỏ ở Saigon đám nhóc tì rắn mắt thường bị mấy bà già trầu Nam bộ "rủa" như thế, chẳng hạn như bấm chuông nhà người ta rồi cắm đầu cắm cổ chạy, bà chủ nhà đang nấu cơm ra không thấy ai biết là bị tụi nhóc phá buông câu rủa "đồ ôn gwoàng dzịt lộn" cho bõ tức rồi quay trở vô, vì được nói theo giọng Nam bộ cho nên tôi chỉ hiểu mấy từ đó đại khái là "ôn hoàng vịt lộn", biết là nói thế nhưng nghĩa của nó là gì thì mù tịt.

Lớn lên đọc sách vở rồi mới biết, "ôn" (), có nghĩa là dịch, bệnh truyền nhiễm. "dịch" (), cũng có nghĩa là bệnh truyền nhiễm, và những từ trên là nói trại từ chữ "ôn hoàng dịch lệ" chứ không phải là "ôn hoàng vịt lộn". 

Đại Nam Quấc Âm Tự Vị của Huình Tịnh Paulus Của giải thích:

- Ôn (): Dịch khí hay truyền nhiễm cũng hay làm cho người ta phải chết.
- Dịch (): Khí độc hay truyền nhiễm.
- Ôn dịch: như "ôn".
- Ôn hoàng dịch lệ: Quỉ làm ôn dịch, tiếng rủa tiếng trù; tiếng lấy làm lạ lẫm.

Việt Nam Tự Điển của Hội Khai Trí Tiến Đức giải thích như sau:

- Ôn (): Bệnh thời khí hay truyền nhiễm.
- Dịch (): Thứ bệnh thời chứng hay truyền nhiễm.
- Ôn dịch (): Cũng có nghĩa như "ôn".
- Ôn quan (): Thần coi về bệnh thời khí.
- Lệ (): Dữ, độc: Ôn hoàng dịch lệ.

Từ điển Hán-Việt trích dẫn giải thích chữ "lệ" () là bệnh tật, dịch chướng.

Trong bốn từ "ôn hoàng dịch lệ", có ba từ "ôn, dịch, lệ" có nhiều nghĩa, nhưng nghĩa ở đây là "bệnh thời khí truyền nhiễm , dữ, độc, bệnh tật, dịch chướng". Duy chữ "hoàng" tra trong nhiều sách vở cũng thấy rất nhiều nghĩa, nhưng không thấy có nghĩa nào liên quan tới bệnh tật, dịch chướng. Tìm trong nhiều sách chỉ thấy Đại Nam Quấc Âm Tự Vị, Huình Tịnh Của giải thích "ôn hoàng dịch lệ" là "Quỉ làm ôn dịch, tiếng rủa tiếng trù; tiếng lấy làm lạ lẫm.". Nếu Việt Nam Tự Điển giải thích "ôn quan" là "Thần coi về bệnh thời khí", thì "ôn hoàng" như Đại Nam Quấc Âm Tự Vị giải thích là "Quỉ làm ôn dịch" chăng?

Con nít ngày xưa phá phách chút đỉnh đã bị rủa là "ôn hoàng dịch lệ", không biết bây giờ phá hại cỡ Formosa thì phải rủa là gì?



--> Đọc tiếp..